Những người lính tiếp lửa chiến trường Điện Biên Phủ

Làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” không chỉ có những người lính trực tiếp xông pha nơi lòng chảo Mường Thanh mà còn có những người lính ở nhiều mặt trận khác trên khắp chiến trường Đông Dương chiến đấu ngăn chặn sự chi viện, các mũi hợp quân của thực dân Pháp, tạo nên một vòng vây thép gián tiếp quyết định thắng lợi cuối cùng.

Tiếp lửa từ chiến trường Lào

Năm nay đã bước sang tuổi 91, cựu chiến binh Lê Mai (hiện ở tổ dân phố 7, phường Tân An) vẫn nhớ như in những ngày tháng băng rừng lội suối trên đất bạn Lào.

Nhập ngũ năm 1951, sau thời gian huấn luyện, ông Lê Mai được biên chế về Đại đội 114, Tiểu đoàn 319, Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325). Năm 1952, khi chiến trường Điện Biên Phủ bắt đầu xoay chuyển cục diện, đơn vị của ông nhận nhiệm vụ tiến sang Thượng Lào. Nhiệm vụ lúc bấy giờ cực kỳ then chốt: đánh chặn, không cho quân Pháp ở Lào hợp quân với lực lượng tại Điện Biên Phủ, đồng thời giải phóng vùng đất bạn.

Cựu chiến binh Lê Mai hiện sinh sống tại tổ dân phố 7, phường Tân An.

“Lúc đó, chúng tôi vừa đánh giặc, vừa làm công tác dân vận. Không biết tiếng thì học tiếng, gặp dân để hỏi đường, nắm dấu vết quân Pháp. Mỗi bát cơm, ngụm nước của bà con dân bản Lào giúp anh em chiến sĩ vơi đi cái đói, cái khát, bệnh tật giữa rừng sâu”, ông Mai xúc động nhớ lại.

Với vai trò Trung đội trưởng Trung đội 2, chỉ huy 36 đồng đội với khẩu K54 bên mình, ông đã cùng đơn vị bảo vệ vững chắc vùng giải phóng của nước bạn Lào. Dù không trực tiếp nổ súng tại lòng chảo Điện Biên nhưng trong suốt 2 năm chiến đấu tại Lào, từng tin thắng trận từ Việt Nam truyền sang là liều thuốc tinh thần vô giá để ông và đồng đội quyết tâm bám trụ. Nhiều đồng đội của ông đã mãi mãi nằm lại trên đất bạn để tạo nên tiền đề cho chiến thắng lừng lẫy ngày 7/5/1954 lịch sử.

Khúc tráng ca Đắk Pơ và tinh thần quyết tử

Trong những ngày tháng 5 lịch sử, cựu chiến binh Nguyễn Hữu Tánh (sinh năm 1933, hiện cư trú tại phường Buôn Ma Thuột) lại nâng niu gần 20 tấm huân, huy chương, kỷ niệm chương - những “chứng nhân” cho một đời binh nghiệp hào hùng.

Năm 1953, tròn 20 tuổi, ông Tánh tình nguyện nhập ngũ vào Trung đoàn 96, Sư đoàn 305. Sau thời gian tập kết, huấn luyện ở miền Bắc, đơn vị của ông hành quân vào Tây Nguyên, tham gia trận đánh ác liệt tại Đắk Pơ (An Khê, Gia Lai) năm 1954. Đây là trận phục kích nổi tiếng của Trung đoàn 96 bộ đội chủ lực Liên khu 5, tiêu diệt gọn Binh đoàn cơ động 100 của Pháp trên Quốc lộ 19, được ví như “Điện Biên Phủ ở Tây Nguyên”.

Cựu chiến binh Nguyễn Hữu Tánh tự hào đã cống hiến tuổi xuân cho công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trận Đắk Pơ trong ký ức của ông là một cuộc chiến không cân sức: Ta thô sơ, địch hiện đại và đông đảo. Khi tiểu đội trưởng hy sinh, ông Tánh đã dũng cảm xông lên thay thế, chỉ huy tiểu đội súng máy chiến đấu ngoan cường. Chiến thắng Đắk Pơ không chỉ thu giữ nhiều khí tài của địch mà còn là một nhát dao chí mạng vào kế hoạch cứu vãn Điện Biên Phủ của thực dân Pháp.

Tháng 10/1954, ông tập kết ra Bắc bảo vệ hòa bình. Năm 1964, ông gia nhập Lữ đoàn Dù, sau đó chuyển ngành do thương tích trong lúc luyện tập. Thời kỳ chống Mỹ, ông lại xung kích tham gia Đoàn 559, mở đường Trường Sơn dưới mưa bom bão đạn để chi viện cho miền Nam.

Những cựu chiến binh như ông Mai, ông Tánh với những năm tháng xuyên rừng và ý chí ngăn chặn chi viện của các ông chính là những viên gạch hồng xây nên tượng đài chiến thắng. Thế hệ hôm nay luôn khắc ghi và tri ân những “lá chắn” thầm lặng ấy - những người đã hiến dâng cả thanh xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Yến Ngọc

Ý kiến của bạn