Nhớ nhịp thước thầy từ buổi học đầu tiên
Cập nhật lúc 09:57, Thứ Tư, 26/12/2018 (GMT+7)
.

Thầy

Ngôi trường nhỏ nơi thị trấn cổ

và bầy chim xanh trên cành vông đồng

thầy giáo già nhịp cây thước gỗ

tiên học lễ, hậu học văn.

 

Khu vườn cũ đã lâu không quét lá

ai buộc lên nhành lựu gãy chiếc khăn

thềm giếng rêu in dấu thầy trượt ngã

chúng con buồn

quả lựu rưng rưng.

 

Con đường mới giờ không còn dấu tích

vũng lầy xưa nước đọng chắn ngang

phong phanh thầy ngược chiều mưa gió

bắc cầu dừa cho chúng con sang.

 

Bầy chim xanh trên cành vông đồng đã bay muôn nẻo

chúng con từ tay thầy đi khắp thế gian

vũng lầy nào cũng nhắc thầm cây dừa nhân hậu

gặp tráo trở càng thương quả lựu chín vàng.

 

Thầy ơi

cánh đồng tháng mười lụt lội

chậm muộn con về dâng một nén nhang

nhịp thước tập ngắt câu của thầy chợt vang trong ký ức

nhịp thước dạy chúng con đối thoại với cuộc đời

từ buổi học đầu tiên.

  Trần Thị Huyền Trang

Nhà thơ Trần Thị Huyền Trang là tác giả của nhiều tập thơ lưu dấu ấn trong lòng bạn đọc suốt mấy chục năm qua như: "Những đêm da trời xanh", "Muối ngày qua"... Thơ chị nhẹ nhàng, sâu lắng về cuộc sống đời thường, thấm đẫm tình cảm yêu thương xuất phát từ trái tim nhân hậu của một người phụ nữ nhiều nghĩ suy, trăn trở. "Thầy" được in trong Tuyển tập thơ "Thầy giáo và nhà trường" là bài thơ hay, để lại ấn tượng đậm sâu trong lòng người đọc nhờ những cảm xúc chân thành, tấm lòng kính yêu vô hạn đối với người thầy.

Bằng giọng thơ nhẹ nhàng như một lời thủ thỉ, khổ đầu tác phẩm là nỗi niềm của nhà thơ khi nhớ về một thời bé bỏng được đi học ở "ngôi trường nhỏ nơi thị trấn cổ". Ở đó, không gian mở ra thật êm đềm, thơ mộng. Hình tượng "bầy chim xanh trên cành vông đồng" vừa có nét tả thực, vừa ẩn dụ cho vẻ đẹp ấu thơ, hồn nhiên được học tập và vui chơi của tuổi học trò thơ dại. Khắc sâu trong ký ức nhân vật trữ tình tác giả là hình ảnh người thầy nghiêm trang với cây thước gỗ tập ngắt nhịp mỗi ngày: “Ngôi trường nhỏ nơi thị trấn cổ/và bầy chim xanh trên cành vông đồng/thầy giáo già nhịp cây thước gỗ/tiên học lễ, hậu học văn”.

Lời thơ kể mộc mạc mà giàu sức gợi. Quá khứ tươi đẹp và yên bình ấy giờ chỉ còn vọng vang trong ký ức người học trò nhỏ khi nhớ về thầy. Chuyển tiếp mạch cảm xúc trữ tình bằng khổ thơ giàu hình tượng, nhà thơ Trần Thị Huyền Trang như cứa vào trái tim người đọc một nỗi buồn xa xót khi vẽ ra cảnh tượng u buồn của khu vườn cũ nhà thầy. Những chiếc lá vàng rụng rơi không ai quét, nhành lựu gãy buộc chiếc khăn như báo hiệu sự ra đi vĩnh viễn của thầy. Hình ảnh "thềm giếng rêu in dấu thầy trượt ngã" thật xúc động, không những diễn tả cuộc sống âm thầm, lặng lẽ của thầy mà còn mở ra chân dung người thầy cần mẫn với công việc mỗi ngày. Đến thăm lại nhà thầy xưa, nhìn cảnh cũ còn đây mà bóng thầy xa khuất, lũ học trò ngơ ngác thật tội nghiệp. Đồng cảm với con người, cây trái nơi vườn nhà thầy cũng rưng rưng một nỗi buồn đau, mất mát không sao diễn tả hết được: “Khu vườn cũ đã lâu không quét lá/ai buộc lên nhành lựu gãy chiếc khăn/thềm giếng rêu in dấu thầy trượt ngã/chúng con buồn/quả lựu rưng rưng”. Nghệ thuật nhân hóa "quả lựu rưng rưng" được nhà thơ lựa chọn khá ấn tượng và giàu tính biểu cảm. Khắc sâu và lưu nhớ mãi về thầy, người thầy nay đã trở thành thiên cổ, trong tâm hồn nhà thơ là hình ảnh thầy "bắc cầu dừa cho chúng con sang". Xưa cuộc sống khó khăn, đường sá trơn trợt, nước đọng chắn ngang mỗi lúc mưa về, thầy đã ngược chiều mưa gió để giúp lũ học trò không phải bỏ học. Thầy hiện lên gần gũi, bình thường mà cũng bao dung, lớn lao như ông Tiên, ông Bụt trên đời. Không cầu kỳ câu chữ, mạch cảm xúc của bài thơ cứ thế chảy dài, chân thành và cảm động khiến người đọc không sao nén được lòng mình. Câu chữ ngắn gọn, vẫn giọng thơ tâm tình như một niềm tự bạch, hình ảnh người thầy "phong phanh" chiếc áo giữa chiều mưa gió hiện lên thật cảm động: “Con đường mới giờ không còn dấu tích/vũng lầy xưa nước đọng chắn ngang/phong phanh thầy ngược chiều mưa gió/bắc cầu dừa cho chúng con sang”.

Thơ hay và lắng sâu trong lòng người đọc đôi khi lại nhờ vào một thi ảnh độc sáng. Chiếc cầu dừa trong bài thơ này là hình tượng độc đáo ấy chăng?. Thầy đã qua đời, học trò xưa đã lớn khôn như bầy chim xanh trên cành vông đồng đã chắp cánh bay xa muôn nẻo. Chính từ tấm lòng nhân hậu của thầy, tình thương yêu vô hạn của thầy, nhất là chiếc cầu dừa thầy bắc qua vũng nước mưa gió ngày nào đã đưa học trò đến những chân trời mơ ước. Cao đẹp và sâu lắng hơn vì chính thầy là người đã giáo dục lễ nghĩa, lòng nhân hậu cho chúng em từ những gì bình dị, đơn sơ trong cuộc sống mỗi ngày: “Bầy chim xanh trên cành vông đồng đã bay muôn nẻo/chúng con từ tay thầy đi khắp thế gian/vũng lầy nào cũng nhắc thầm cây dừa nhân hậu/gặp tráo trở càng thương quả lựu chín vàng”.

Bài thơ khép lại bằng hình ảnh tháng mười gió mưa trĩu nặng. Ngoài trời mưa, lòng học trò cũng đang mưa vì nỗi nhớ thương thầy. Thầy không còn, tháng mười lũ lụt, con về thắp nén nhang cho thầy mà rưng rưng nước mắt. Nhớ thầy, những kỷ niệm êm đềm của quá khứ xa xưa lại hiện về trong ký ức. Hình ảnh nhịp thước tập ngắt câu của thầy tràn về nhắc nhở chúng em phải biết sống sao cho xứng đáng với tình thương yêu và sự dạy dỗ của thầy. Biết đối thoại, biết sống chân thành với người, với đời mới là con người đúng nghĩa. Buổi học đầu tiên cứ thảng thốt gọi lòng, gợi cho người học trò ngày nào ngậm ngùi trước vong hương thầy giáo cũ: “Thầy ơi/cánh đồng tháng mười lụt lội/chậm muộn con về dâng một nén nhang/nhịp thước tập ngắt câu của thầy chợt vang trong ký ức/nhịp thước dạy chúng con đối thoại với cuộc đời/từ buổi học đầu tiên”.

Bài thơ "Thầy" của nhà thơ Trần Thị Huyền Trang xúc động và neo đậu mãi trong lòng người đọc nhờ vào cảm xúc thành tâm, ngôn ngữ thơ giàu hình tượng, hơi thơ liền mạch và đậm chất suy tư. Tác giả đã dựng lên chân dung người thầy khả kính với tấm lòng cao đẹp, giàu tình yêu thương và nhân hậu. Hình tượng chiếc cầu dừa và người thầy phong phanh giữa ngày mưa tháng gió đưa học trò đến lớp là thông điệp lung linh sáng mãi nơi trái tim mọi người.

Lê Thành Văn

,