Vị tướng già và câu chuyện nghi binh trong Chiến dịch Tây Nguyên
Cập nhật lúc 08:28, Thứ Tư, 02/09/2020 (GMT+7)
.

Trong chuyến công tác tại tỉnh Gia Lai vừa qua, tôi may mắn được gặp gỡ và trò chuyện với Trung tướng Khuất Duy Tiến, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3, hiện đang sinh sống tại Hà Nội.

Mặc dù chiến tranh đã lùi xa 45 năm nhưng khi trở về với mảnh đất Tây Nguyên, với bà con buôn làng, ký ức về những năm tháng chiến đấu vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí của vị tướng già.

Trung tướng Khuất Duy Tiến sinh năm 1931, ở huyện Thạch Thất (Hà Nội), khi mới 12 tuổi đã tham gia cách mạng. Trong Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ông là Trung tá, Trưởng Phòng tác chiến Mặt trận Tây Nguyên (B3).

Kể lại những ngày tháng khốc liệt của chiến tranh, kỷ niệm mà ông nhớ nhất đó là “Kế hoạch nghi binh” do chính tay ông viết trong Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 được các đơn vị phối hợp thực hiện rất tốt. Lực lượng của địch ở chiến trường Tây Nguyên thời điểm đó khoảng 30.000 quân được trang bị đầy đủ phương tiện, máy móc hiện đại, tối tân nhất.

Tháng 9-1974, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên được giao nhiệm vụ chuẩn bị mở Chiến dịch Tây Nguyên nhằm tiêu diệt địch theo đường 14 qua Đức Lập, giải phóng Gia Nghĩa (nay thuộc tỉnh Đắk Nông) mở hành lang chiến lược nối liền Tây Nguyên với Đông Nam bộ.

Tháng 1-1975, Bộ Tổng Tư lệnh lại xác định nhiệm vụ, mục tiêu là: tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng tỉnh Đắk Lắk, trong đó mục tiêu then chốt, quyết định là thị xã Buôn Ma Thuột. Do đó, từ giữa tháng 1 đến cuối tháng 2-1975, lực lượng của ta được tăng cường lên chiến trường Tây Nguyên với quân số lên đến hơn 65.000 người, trong đó có hơn 43.000 người trực tiếp tham chiến. Song song với việc tăng cường binh lực, Mặt trận B3 còn được bổ sung một lượng vật chất, vũ khí, trang thiết bị rất lớn.

Trung tướng Khuất Duy Tiến trò chuyện cùng thế hệ trẻ.
Trung tướng Khuất Duy Tiến trò chuyện cùng thế hệ trẻ.

Để giữ bí mật cho chiến dịch, tháng 10-1974, ông được giao nhiệm vụ xây dựng “Kế hoạch nghi binh”. Sau 2 tuần soạn thảo, kế hoạch nghi binh với 10 trang giấy viết tay của Trung tướng Khuất Duy Tiến được phổ biến rộng rãi ở các đơn vị. Theo đó, khi nhận kế hoạch tác chiến mà có chữ “Kế hoạch B” (tức kế hoạch nghi binh) thì chỉ huy đơn vị không làm theo, để nghi binh và giữ bí mật tuyệt đối về kế hoạch thật của chiến dịch. Trong suốt thời gian thực hiện kế hoạch nghi binh từ giữa tháng 11-1974 đến đầu tháng 3-1975, những phương án nghi binh được ta triển khai rầm rộ như: đêm đêm các xe kéo pháo, xe tăng cơ động thay đổi vị trí, các xe vận tải tăng cường vận tải hàng hóa, quân - dân ra sức củng cố hầm hào, công sự chiến đấu; đồng thời ta cho phao tin sắp đánh lớn ở Gia Lai, Kon Tum khiến cho địch lập tức điều động lực lượng lên khu vực này, trong khi đó Buôn Ma Thuột không có kế hoạch phòng thủ.

Theo Trung tướng Khuất Duy Tiến, việc nghi binh nhằm đánh lừa địch lên phía Bắc Tây Nguyên, trong khi ta bí mật để hai sư đoàn chủ lực là Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 hành quân xuống Nam Tây Nguyên bao vây, cô lập Buôn Ma Thuột để có được thắng lợi trong trận then chốt. Kế hoạch nghi binh thắng lợi không chỉ tiết kiệm được thời gian mà còn giảm mức thương vong thấp nhất cho lực lượng của ta để nhanh chóng giải phóng hoàn toàn Buôn Ma Thuột, đẩy địch vào thế bị động, bất ngờ, tạo thế tiến công liên tiếp giải phóng An Khê (12-3), Kon Tum, Pleiku (17-3), Kiến Đức (20-3), Gia Nghĩa (22-3). Sau khi làm chủ Tây Nguyên (24-3), thừa thắng xông lên, từ ngày 25-3 đến 3-4, quân ta tiến xuống đồng bằng ven biển giải phóng Bình Khê, Phú Yên, Nha Trang - Cam Ranh.

Trung tướng Khuất Duy Tiến (bìa trái) cùng lãnh đạo Bộ Quốc phòng thắp hương viếng các Anh hùng liệt sỹ tại Nghĩa trang Liệt sỹ tỉnh Gia Lai.
Trung tướng Khuất Duy Tiến (bìa trái) cùng lãnh đạo Bộ Quốc phòng thắp hương viếng các Anh hùng liệt sỹ tại Nghĩa trang Liệt sỹ tỉnh Gia Lai.

Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên và một số tỉnh duyên hải miền Trung, tạo nên bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh cách mạng, làm thay đổi cơ bản lực lượng giữa ta và địch, đưa cuộc tiến công chiến lược phát triển thành Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Trung tướng Khuất Duy Tiến cho rằng, để làm nên chiến thắng này là nhờ bộ đội ta có tinh thần chiến đấu dũng cảm, không ngại gian khổ, khó khăn, ý chí quyết chiến quyết thắng kẻ thù.

Bên cạnh đó còn là nghệ thuật quân sự sáng tạo, linh hoạt của các cấp chỉ huy, biết phân tích thế trận giữa ta và địch. Đó là sự kế thừa truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông ta, là sự sáng tạo của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới ánh sáng soi đường của Đảng, Bác Hồ, giúp quân đội làm nên những chiến thắng vẻ vang, tô thắm thêm lịch sử hào hùng của dân tộc và mãi là niềm tự hào của các thế hệ tiếp bước.

Thế Hùng

,