(E-magazine) Mùa vải sớm trên cao nguyên Đắk Lắk
![]() |
Hành trình gần 30 năm của cây vải trên đất bazan không chỉ là câu chuyện về chuyển đổi cơ cấu cây trồng mà còn là khát vọng đưa quả vải vươn ra thị trường thế giới của những người nông dân thời đại mới.
![]() |
Sự “bén duyên” đó bắt đầu từ những cuộc “di cư” lặng lẽ của giống cây ăn trái xứ lạnh đến Tây Nguyên khi theo chân những người con phía Bắc đi vùng kinh tế mới cách đây gần 30 năm. Đặc biệt, những cây vải được đưa về trồng thử trên vùng đất của xã Ea Kly gắn liền với tên tuổi của ông Nguyễn Duy Tiên – được xem là một trong những người đầu tiên đưa giống vải từ miền Bắc vào trồng tại tỉnh Đắk Lắk (hiện đã mất).
![]() |
Theo lời kể của bà Nguyễn Thị Tới (vợ ông Tiên), năm 1996, gia đình đã đưa mấy gốc vải thiều Thanh Hà từ ngoài Bắc vào trồng thử nghiệm ở vùng đất này, nhưng do khí hậu Tây Nguyên không có mùa đông rét sâu như miền Bắc nên hiệu quả không cao.
Không bỏ cuộc, sau nhiều lần thử nghiệm và ghép cải tạo qua các giống vải U thâm, đến năm 2008, gia đình đã tìm ra "chìa khóa" thành công với giống vải chín sớm Phương Nam có nguồn gốc từ vùng Bình Khê (tỉnh Quảng Ninh). Từ một cây giống ban đầu, gia đình ông Tiên đã kiên trì lai tạo, nhân giống ra khắp vườn và hỗ trợ kỹ thuật cho nhiều hộ dân trong tỉnh cùng phát triển vùng vải chín sớm. Đến nay, vườn vải của gia đình đã tròn 30 năm tuổi, mang lại nguồn thu nhập lớn và trở thành minh chứng cho “mối duyên lành” của loại cây ăn trái này trên đất đỏ Tây Nguyên.
![]() |
Không chỉ mang giống cây mới lên cao nguyên, những người tiên phong như gia đình ông Tiên còn từng bước “giải mã” đặc tính sinh học của cây vải trong điều kiện khí hậu Tây Nguyên. Đó là, muốn cây vải ra hoa ổn định, người trồng phải có kỹ thuật để can thiệp sâu vào quá trình sinh trưởng như: điều tiết nước tưới, cắt tỉa cành, khoanh vỏ, xử lý phân hóa mầm hoa và cân đối dinh dưỡng theo từng giai đoạn sinh lý của cây.
Bởi vậy, phía sau những mùa vải “ngọt” là một quá trình lao động gắn với việc tìm tòi, ứng dụng khoa học-kỹ thuật trong chăm sóc vườn cây của người nông dân. Cuộc “di cư” của cây vải vì thế không đơn thuần là sự dịch chuyển giống cây trồng, mà còn là cuộc chuyển dịch tư duy sản xuất nông nghiệp của người dân Đắk Lắk.
![]() |
“Đặc tính của cây vải là gặp thời tiết lạnh mới ra hoa, đậu quả tốt. Do đó phải nắm được diễn biến thời tiết để có biện pháp chăm sóc, tỉa cành giúp kích thích phân hóa mầm hoa tốt”. - Ông Nguyễn Duy Tân (xã Ea Kly) chia sẻ.
Còn các hộ trồng vải ở thôn Ea Sar 10 (xã Ea Knốp) cho hay: Để vườn vải đạt hiệu quả kinh tế như hôm nay, bà con phải vừa trồng, vừa học hỏi, thử nghiệm để tìm ra “bí quyết” cắt tỉa cành, tạo tán, dùng dây kẽm thắt thân để cây ra hoa sớm, bón thúc phân chuồng giúp quả chín nhanh…
![]() |
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, từ vài diện tích nhỏ lẻ ban đầu, đến nay toàn tỉnh Đắk Lắk đã có khoảng 3.264 ha vải, sản lượng ước đạt trên 21.000 tấn. Các vùng trồng tập trung ở Ea Knốp, Ea Kly, Phú Xuân, M’Đrắk, Ea Na, Buôn Hồ…, với 15 mã vùng xuất khẩu, diện tích trên 195 ha. Trong đó, Ea Knốp trở thành “thủ phủ” vải chín sớm với hơn 700 ha.
Hiện các giống vải được trồng tại Đắk Lắk rất đa dạng, như: giống U Hồng, U Trứng, Bình Khê, Phúc Hòa, Thiều U Cẩm Hoàng, Thiều Thanh Hà…, nhiều nhất là giống U Hồng. Đặc biệt, ở mỗi vùng trồng có những đặc điểm thổ nhưỡng và khí hậu riêng đã góp phần tạo nên hương vị đặc trưng cho trái vải Đắk Lắk. Từ vùng đất bazan đầy nắng gió, những mùa vải ngọt đang mở ra một hướng đi mới cho nông nghiệp Đắk Lắk.
![]() |
![]() |
![]() |
|
|
Trong khi vải phía Bắc thường bắt đầu thu hoạch rộ vào tháng 6 (dương lịch), thì vải tại Đắk Lắk đã sẵn sàng lên kệ từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 5. Khoảng thời gian thu hoạch chênh lệch gần một tháng đã giúp trái vải Đắk Lắk gần như “một mình một chợ” trong giai đoạn đầu vụ, đặc biệt, quả vải Đắk Lắk còn được người tiêu dùng ưa chuộng bởi vị ngọt thanh, quả mọng nước nên đều bán được với giá cao.
![]() |
Hiện quả vải Đắk Lắk được tiêu thụ rộng rãi tại các thành phố lớn như: Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và các tỉnh thành khác trên cả nước và đang có những bước tiến đáng kể trong việc tiếp cận thị trường quốc tế. Các thị trường tiềm năng như Trung Quốc, các nước Đông Nam Á và một số thị trường khó tính khác cũng đang được doanh nghiệp và hợp tác xã địa phương chú trọng khai thác. Nhờ đó, trong giai đoạn đầu vụ, giá vải loại 1 có thể đạt mức 50.000 – 70.000 đồng/kg, cao hơn nhiều loại cây trồng truyền thống. Nhiều nông dân đã thực sự đổi đời nhờ chuyển đổi sang trồng cây vải.
![]() |
Gia đình ông Nguyễn Văn Bình ở thôn Ea Sar 10 (xã Ea Knốp) là một ví dụ điển hình. Từ 100 cây vải trồng thử nghiệm năm 2012, sau 2 năm, nhận thấy cây vải phát triển tươi tốt, ông “đánh liều” phá bỏ cà phê, mở rộng diện tích trồng vải lên 5 ha. Việc chủ động cho cây vải ra hoa theo ý muốn, quả chín sớm không trùng với chính vụ ở các tỉnh phía Bắc đã giúp gia đình ông có đầu ra thuận lợi, ổn định, giá bán cao, năng suất trung bình từ 7 - 10 tấn/ha, trừ chi phí thu về khoảng 2 tỷ đồng/năm.
![]() |
Tương tự, vườn vải của gia đình ông Lê Văn Long ở thôn Ea Sar 5 (xã Ea Knốp) trong những ngày này đang tấp nập người thu hái, đóng gói, vận chuyển. Vụ vải năm 2026, vườn vải của nhà ông Long ước đạt từ 80 - 100 tấn. Ông Long cũng phấn khởi, bởi đầu mùa năm nay giá bán quả vải cao hơn so với năm 2024, 2025. Vải loại 1 đang được mua tại vườn với giá khoảng 50.000 - 70.000 đồng/kg. Mặc dù hiện tại giá vải Tây Nguyên đã giảm so với đầu vụ nhưng chính nhờ tuân thủ quy trình chăm sóc cây vải theo tiêu chuẩn VietGAP và được cấp mã số vùng trồng cho hơn 12 ha vải đã giúp vườn vải của gia đình có đầu ra ổn định.
![]() |
Tại các vườn vải ở Ea Kly, không khí mùa vụ cũng trở nên nhộn nhịp bởi những xe thương lái đổ về chốt các vườn vải. Với nhiều hộ dân, cây vải không chỉ giúp cải thiện thu nhập mà còn mở ra một lối thoát sau nhiều năm lao đao vì giá cà phê, hồ tiêu bấp bênh.
![]() |
Gia đình ông Nguyễn Duy Tân (thôn 12A, xã Ea Kly) canh tác 1,4 ha vải; sản lượng vụ này ước đạt khoảng 18 tấn. Giá vải đầu mùa có sự khởi sắc khi tăng khoảng 10 - 20% so với năm ngoái. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, khi vải miền Bắc bắt đầu vào mùa nên giá có dấu hiệu chững lại. Dự kiến, toàn bộ sản lượng vườn nhà ông Tân sẽ mang lại nguồn lợi nhuận từ 500 – 700 triệu đồng.
![]() |
Mặc dù tiềm năng rất lớn nhưng quả vải Đắk Lắk vẫn đang đứng trước những thử thách không nhỏ. Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Môi trường, phần lớn diện tích vải vẫn phát triển tự phát, quy mô nhỏ lẻ và chưa hình thành các vùng chuyên canh lớn được quy hoạch bài bản. Việc bảo quản sau thu hoạch còn hạn chế, tiêu thụ phần lớn vẫn phụ thuộc vào các thương lái tự do. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu cũng đang làm ảnh hưởng lớn đến năng suất, sản lượng vải Đắk Lắk. Thực tế đã cho thấy, năm 2026, nhiều vùng vải ở Đắk Lắk giảm năng suất khoảng 20 - 30% do ảnh hưởng thời tiết cực đoan.
![]() |
Để tháo gỡ những khó khăn này, các địa phương tập trung xây dựng và phát huy chuỗi liên kết giá trị thông qua mô hình kinh tế tập thể. Tiêu biểu như HTX Nông nghiệp – Dịch vụ Thanh Bình (xã Ea Knốp), từ 16 thành viên với hơn 100 ha ban đầu, HTX đã liên kết sản xuất với khoảng 2.000 ha trong và ngoài tỉnh. Từ đó, hình thành vùng sản xuất chuyên canh tập trung theo cánh đồng mẫu lớn, ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ vào sản xuất, tạo cơ hội đưa quả vải của địa phương xuất ngoại. Hiện toàn bộ số diện tích vải của HTX đã được cấp chứng nhận VietGAP, trong đó có 47 ha đã được gắn mã vùng trồng. Lợi ích đem lại không chỉ là đầu ra ổn định, thương lái thu mua tận vườn mà mỗi ha vải còn gia tăng giá trị lợi nhuận khoảng 50 - 100 triệu đồng so với trước kia.
![]() |
Với vai trò kết nối thị trường, HTX đã thu mua, đóng gói vải ngay tại vườn, bảo đảm đầu ra cho nông dân. “Có ngày cao điểm, HTX mua khoảng 50 tấn vải, đóng gói trực tiếp tại vườn để xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Việc kết nối sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi không chỉ giúp nông dân yên tâm đầu tư mà còn giúp doanh nghiệp chủ động nguồn hàng chất lượng cao”, ông Nguyễn Văn Bình, Giám đốc HTX cho hay.
![]() |
Theo Chủ tịch UBND xã Ea Knốp Lê Anh Vũ, toàn xã Ea Knốp hiện có 5 mã đã được cấp mã vùng trồng với diện tích 69 ha và có 103 ha đã được cấp chứng nhận VietGAP giúp sản phẩm vải có thể vươn ra thị trường xuất khẩu. Đây cũng là bước tiến lớn trong chiến lược xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, nâng cao giá trị nông sản và hướng tới phát triển bền vững.
![]() |
Đối với xã Ea Kly, chính quyền xã khuyến khích bà con chú trọng vào nâng cao chất lượng và kỹ thuật chăm sóc giống vải chín sớm và xem đây là giải pháp then chốt để duy trì vị thế của nông sản địa phương trên thị trường.
![]() |
Theo ông Nguyễn Hắc Hiển, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt – Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường), ngành nông nghiệp đang nỗ lực hỗ trợ nông dân xây dựng thương hiệu, mở rộng mã số vùng trồng và mã cơ sở đóng gói. Mục tiêu không chỉ là tiêu thụ nội địa, mà phải đưa quả vải Đắk Lắk khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Đồng thời, thu hút các dự án đầu tư nhà máy chế biến tại chỗ để đa dạng hóa sản phẩm (vải sấy, nước ép) nhằm giảm áp lực tiêu thụ quả tươi và tăng giá trị gia tăng.
Nội dung và hình ảnh: Minh Thuận – Nguyễn Xuân
Trình bày: Mạnh Hùng






















