(E-Magazine) Từ sản vật biển khơi đến “đại sứ” du lịch Kỳ 1: Tinh hoa câu vàng
![]() |
![]() |
![]() |
Rạng sáng ở cảng cá Đông Tác (phường Phú Yên), những con tàu nối nhau cập bến sau hành trình dài ngày giữa đại dương. Từng con cá ngừ đại dương được đưa lên bờ, thân ánh bạc, mang theo mồ hôi, hy vọng và cả những trăn trở của ngư dân. Từ thành quả của một nghề “nhặt” được, cá ngừ đại dương đã góp phần làm nên diện mạo kinh tế biển phía Đông Đắk Lắk.
![]() |
Không bắt đầu từ giáo trình hướng dẫn hay sự du nhập có chủ đích, nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển phía Đông Đắk Lắk hình thành theo một hành trình rất riêng, chậm rãi, tình cờ nhưng đầy tính khám phá của ngư dân.
Khoảng năm 1988, khi những chuyến biển vẫn xoay quanh nghề câu cá chuồn, cá nhám…, một vài ngư dân trong lúc đánh bắt cá chuồn đã thử buông thêm vài thẻo câu (dây câu - PV) có độ dài khoảng 3 sải (tương đương 5 m) xuống sâu hơn. Chính từ thử nghiệm ấy, lần đầu tiên ngư dân đánh bắt được cá ngừ đại dương. Tuy nhiên khi ấy cá ngừ vẫn chỉ là loài cá lạ, nhiều, rẻ và khó bán.
Ông Trần Ngang, một trong những ngư dân đầu tiên đánh bắt cá ngừ đại dương ở phường 6, TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên (nay là phường Tuy Hòa, tỉnh Đắk Lắk) nhớ lại: “Hồi đó, biển mình dày cá ngừ đại dương lắm, các tàu câu nước bạn sang đánh bắt sát bên mình. Nhưng ngư dân mình lúc bấy giờ đâu biết cá ngừ đại dương là gì, đi biển chỉ chăm chăm đánh cá nhám - loại cá có giá nhất lúc đó. Thi thoảng cá ngừ cũng dính câu, nhưng lưỡi câu cá nhám không giữ được loại cá này; qua vài cú quẫy, phần lớn cá bị rách mép và thoát đi. Con nào còn dính thì được đưa vào bờ, cắt khúc bán ở chợ, giá rẻ bèo”.
![]() |
Vài năm sau, giữa biển khơi, khi giàn câu vô tình vướng vào thiết bị của tàu nước ngoài, ngư dân Tuy Hòa mang về được một đoạn giàn câu khác biệt. Không ai chỉ dẫn, họ tự tháo ra xem, tự so sánh, rồi điều chỉnh lại cho phù hợp với chiếc thuyền nhỏ của mình. Những chiếc lưỡi câu, thẻo câu nhặt được ấy, khi đưa trở lại biển, đã cho kết quả bất ngờ. Cá ngừ dính câu nhiều hơn, đều hơn.
Từ những mảnh ghép rời rạc đó, ngư dân khi ấy nhận ra mình đang chạm đến một nguồn lợi khác. Tuy vậy, trong suốt một thời gian dài, nghề câu cá ngừ đại dương vẫn dừng ở mức “đi ghép”. Mỗi thuyền ra khơi chỉ mang theo hơn chục thẻo câu cá ngừ, bởi đầu ra chưa có, cá nhiều, giá lại rẻ, thậm chí bán cũng khó.
![]() |
Bước ngoặt chỉ thực sự đến khi thị trường bắt đầu nhận ra giá trị của cá ngừ đại dương. Khoảng năm 1993, khi một Việt kiều từ Mỹ trở về thăm quê ở Tuy Hòa, ông đã hướng dẫn người dân nơi đây cách ăn sashimi cá ngừ; đồng thời đứng ra tổ chức thu mua cá ngừ để chuyển vào TP. Hồ Chí Minh và xuất đi nước ngoài.
Từ 7.000 đồng/kg, ông đã nâng giá thu mua lên 21.000 đồng/kg cá ngừ đại dương. Tiếp sau ông, nhiều thương buôn từ Đài Loan cũng tìm đến thu mua cá ngừ. Tại Tuy Hòa, một số doanh nghiệp được thành lập chuyên thu mua cá ngừ cung cấp cho các doanh nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh để xuất khẩu.
![]() |
Một thị trường mới cho con cá ngừ đại dương được mở ra đã kéo nghề ra khỏi tình trạng tự phát. Từ đây, ngư dân không còn đánh bắt theo kiểu “có gì lấy nấy”, mà chủ động đầu tư ngư cụ, đưa đá lạnh lên tàu để bảo quản sản phẩm, kéo dài chuyến biển. Những giàn câu theo đó cũng thay đổi, không còn ngắn và đơn giản như trước mà được nối dài, vươn xuống tầng nước sâu nơi những đàn cá ngừ di chuyển ăn mồi.
Những năm đầu thế kỷ XXI, ngư dân Tuy Hòa đầu tư giàn câu thả dài đến 30 hải lý với 1.000 - 1.200 thẻo câu, mỗi thẻo câu dài 15 sải. Và nghề câu vàng chính thức ra đời. Từ Tuy Hòa, nghề câu vàng chuyên đánh bắt cá ngừ đại dương lan ra các tỉnh lân cận, khai sinh một nghề biển mới ở Việt Nam.
![]() |
![]() |
Có một giai đoạn, cá ngừ đại dương thực sự là “lộc biển”, thứ lộc đến dồn dập, hào phóng đến mức nhiều người đi biển sau này nhắc lại vẫn không khỏi tiếc nuối. Đó là những năm đầu thế kỷ XXI, khi biển như mở kho, cá theo đàn dày đặc.
![]() |
Ông Trần Văn Xê, ngư dân phường Tuy Hòa, người đã theo biển từ năm 13 tuổi, kể lại: “Chưa khi nào làm biển mà thấy dễ như thời đó. Những chuyến ra khơi khi ấy mang theo nhiều hy vọng hơn là lo toan. Có tàu chỉ cần thả giàn câu một lần là bắt đầu thu cá, từ 19 giờ đêm hôm trước đến 8 giờ sáng hôm sau đã đầy khoang, vội vã quay mũi vào bờ. Mỗi chuyến biển 5 - 10 ngày đem về 3 - 4 tấn cá là chuyện thường".
![]() |
Biển hào phóng kéo theo cả một làng nghề ăn nên làm ra. Lao động tứ xứ tìm về xin đi bạn, chỉ mong được theo tàu một chuyến. Ở Tuy Hòa, không khí đóng tàu rộn ràng suốt ngày đêm, thợ làm không xuể việc.
Nhà này vừa hạ thủy xong đã tính chuyện đóng thêm chiếc nữa, có gia đình sở hữu cùng lúc vài ba tàu. Những mái nhà tạm bợ dần được thay bằng nhà kiên cố, con cái được cho ăn học đàng hoàng, tất cả đều bắt đầu từ lộc biển ngoài khơi.
![]() |
Nhưng sau năm 2012, nguồn cá thưa dần, những chuyến biển bắt đầu nặng trĩu nỗi lo. Nghề câu vàng vốn từng một thời thời hoàng kim dần bộc lộ sự kém hiệu quả. Trước thực tế đó, ngư dân buộc phải thay đổi để giữ nghề.
![]() |
Sự xoay chuyển bắt đầu từ chính cách đánh bắt. Từ học hỏi kinh nghiệm của bạn nghề đến tiếp cận kỹ thuật của các nước có nghề cá phát triển, nhiều tàu chuyển sang câu đèn, sử dụng ánh sáng để dẫn dụ cá. Những giàn đèn cao áp được lắp đặt, các vàng câu được thay bằng những dây câu tay.
Cách tổ chức chuyến biển cũng gọn lại, giảm số lượng bạn thuyền nhưng sản lượng cao hơn. Song song đó là hàng loạt điều chỉnh nhỏ mà không nhỏ: thay mồi câu, cải tiến thẻo câu, tìm cách giữ cá tươi lâu hơn ngay trên tàu. Mỗi thay đổi là một lần thử, là những chuyến biển phải đánh đổi mới rút ra được kinh nghiệm.
![]() |
Dẫu vậy, càng đi sâu vào nghề, ngư dân càng nhận ra bài toán không chỉ nằm ở chuyện “đánh được bao nhiêu cá”. Cá vẫn có, nhưng giá trị lại phụ thuộc vào chất lượng và thị trường. Khi sản phẩm còn bán thô, khi khâu bảo quản chưa đồng đều, thì công sức của cả chuyến biển vẫn chưa được trả đúng.
Những nỗ lực cải tiến vì thế vẫn đang tiếp diễn, âm thầm nhưng bền bỉ. Không còn thời “lộc biển” dễ dàng như trước, người đi biển hôm nay buộc phải linh hoạt hơn, tính toán nhiều hơn để thích ứng. Và cũng chính trong sự xoay sở ấy, nghề câu cá ngừ đại dương tiếp tục được phát triển.
![]() |
Theo ông Thuẩn, bài toán của nghề câu cá ngừ hiện nay không còn nằm ở chuyện “đánh bắt được hay không”, mà là làm sao để mỗi chuyến biển mang lại giá trị xứng đáng. Khi con cá được nâng giá trị, ngư dân mới thực sự yên tâm bám biển lâu dài.
![]() |
Hành trình của một con cá ngừ đại dương, tính đến thời điểm hiện tại, phần lớn vẫn dừng lại ở cảng cá. Từ khoang tàu, cá được đưa lên bờ, bán cho thương lái, rồi tiếp tục đi vào các kênh tiêu thụ khác nhau.
Nhưng giữa các khâu, từ khai thác, bảo quản đến chế biến và thị trường vẫn còn những “khoảng trống” chưa được lấp đầy.
![]() |
Người tiêu dùng có thể thưởng thức những lát cá ngừ tươi ngon, nhưng ít ai hình dung được phía sau đó là những đêm dài lênh đênh giữa biển, là những lần đánh cược với bão gió, sóng dữ… Chính sự thiếu kết nối trong chuỗi giá trị đã khiến cá ngừ, dù có tiềm năng lớn, vẫn chưa thể vươn lên thành một sản phẩm có giá trị cao và bền vững.
Dẫu vậy, ngư dân vẫn bám biển, không chỉ vì kế sinh nhai, mà còn vì tình yêu với đại dương, với nghề đã nuôi sống bao thế hệ và vì trách nhiệm gìn giữ biển trời của Tổ quốc.
Ông Trần Văn Xê cho hay: “Tôi là đời thứ ba trong gia đình bám biển. Nay các con trai tôi tiếp tục nối nghiệp, những chuyến thuyền vẫn đều đặn ra khơi. Làm biển cực nhưng bỏ không được”.
![]() |
Không bỏ, nhưng rõ ràng, nghề khai thác cá ngừ không thể tiếp tục phát triển theo cách cũ. Bởi ngoài sản lượng là yếu tố quyết định, thì việc nâng cao giá trị cho sản phẩm cá ngừ đại dương đang trở thành yêu cầu tất yếu.
Bên cạnh đó, một yêu cầu mới đặt ra là làm sao để con cá ngừ đại dương không chỉ là sản phẩm khai thác, mà còn là sản phẩm có câu chuyện, có thương hiệu, có giá trị gia tăng. Đó không chỉ là bài toán của riêng ngư dân, mà của cả một ngành kinh tế biển đang tìm cách chuyển mình.
![]() |
Theo Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Biển đảo Đào Quang Minh, thời gian tới, định hướng của ngành là tiếp tục hỗ trợ ngư dân ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong khai thác và bảo quản, từng bước chuẩn hóa quy trình để nâng chất lượng sản phẩm. Đồng thời thúc đẩy hình thành các chuỗi liên kết giữa ngư dân - doanh nghiệp - thị trường, gắn khai thác với chế biến và tiêu thụ.
"Chỉ khi chuỗi giá trị được hoàn thiện, con cá ngừ mới thực sự phát huy hết tiềm năng và trở thành sản phẩm kinh tế bền vững", ông Đào Quang Minh nói.
![]() |
Nội dung: Tuyết Hương - Lê Hảo
Trình bày: Mạnh Hùng





















