Tự hào là người lính Trung đoàn 142
Cập nhật lúc 09:51, Thứ Tư, 26/12/2018 (GMT+7)
.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với sức mạnh tổng hợp, trong thế trận như vũ bão, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Song, vết thương chiến tranh chưa kịp hàn gắn, lửa đạn cuộc chiến chưa kịp nguội thì bọn thù trong câu kết với giặc ngoài gây ra cuộc chiến tranh biên giới tây nam, quấy rối nước ta. Trước tình hình nhiệm vụ cấp bách, ngày 2-9-1978, Trung đoàn 142 thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk được thành lập.

Lực lượng Trung đoàn với nòng cốt là Tiểu đoàn 1 và 3 của Trung đoàn 25, Tiểu đoàn 5 tỉnh Thuận Hải, có các cán bộ Tỉnh Đội Đắk Lắk, một số nguyên là Tiểu đoàn 301 bộ binh, Tiểu đoàn 401 đặc công, nam nữ chiến sĩ tân binh, quân số từ các đơn vị hợp thành. Nhiệm vụ chính trị của Trung đoàn là truy quét bọn Fulrô trên địa bàn, chiến đấu bảo vệ biên giới, sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ quốc tế. Trung đoàn đóng quân tại Đức Lập (huyện Đắk Mil, nay thuộc tỉnh Đắk Nông), khẩn trương ổn định tổ chức, sắp xếp lực lượng, học tập chính trị, huấn luyện quân sự, chuẩn bị chiến trường, bảo đảm mọi mặt chu đáo phục vụ chiến đấu. Chúng tôi - những người lính Trung đoàn 142 được quán triệt nhiệm vụ, nhận thức sâu sắc quan điểm cách mạng của Đảng: “Giúp bạn, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của bọn Pôn Pốt là trực tiếp bảo vệ an ninh biên giới, bảo vệ chủ quyền của nước Việt Nam độc lập thống nhất, xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Chấp hành mệnh lệnh cấp trên, tháng 12-1978 Trung đoàn hành quân vượt sông Sêrêpốk, xuyên biên giới sang Mundulkiri phối hợp với cánh quân của ta cùng các đơn vị nước bạn đồng loạt tiến công tiêu diệt quân thù để giải phóng đất nước Campuchia.

Thời tiết vào mùa khô hanh, đêm đẫm sương, gió lạnh, ngày nắng, rừng cây đang độ trút lá, những lòng con suối cạn khô phơi cát đá lô nhô. Cán bộ, chiến sĩ ba lô trên lưng, mang súng đạn, lương thực hành quân băng rừng, vượt sông suối xốc tới. Hành quân bí mật dài ngày, bữa ăn chủ yếu dùng lương khô, gạo sấy, vì thế bộ đội ta rất xót ruột do thiếu rau xanh. Có những chặng đường hành quân dài, khát nước, phát hiện được vũng voi đầm nước ngầu bùn đất, chiến sĩ ta vục vào bi đông lấy khăn bịt miệng bình rồi lộn ngược lên uống cho đỡ khô họng. Núi rừng trùng điệp hiểm trở, địa hình lạ với quân ta, đối tượng tác chiến là lính Pôn Pốt thông thuộc đường đi lối lại. Chúng thường phân tán lực lượng thành tốp nhỏ lẻ, bu bám dai dẳng bắn lén, rải các loại mìn nhằm ngăn chặn bước tiến của quân ta. Trung đoàn hình thành ba mũi tiến quân dựa vào bản đồ, xác định tọa độ, đối chiếu thực địa, dùng địa bàn vạch đường theo hướng khắc phục vật cản mà đi, gặp địch là đánh. Cán bộ, chiến sĩ đã được quán triệt thấu đáo, giữ nghiêm kỷ luật dân vận, kỷ luật quốc tế nên không ai bắt con cá dưới suối, hái ngọn rau rừng cải thiện bữa ăn.

Hôm ấy, trên đường tiến quân vào lúc 8 giờ sáng, đơn vị gặp địch, súng nổ ran trời đất, lá cây rừng rơi tơi tả, khói đạn mờ mịt kéo dài tới trưa. Địch bị tổn thất nặng và tháo chạy. Ta thu chiến lợi phẩm, trong đó có một con lợn trong rọ khoảng năm chục cân do địch bỏ lại. Anh chị em bộ phận hậu cần Trung đoàn thay nhau khiêng lợn suốt chặng đường hành quân cho đến khi gặp đơn vị nước bạn và trao lại cho họ. Một hôm vào lúc 5 giờ chiều, bộ phận trinh sát, thông tin đi chuẩn bị chiến trường thì gặp địch, anh em quần nhau với chúng quyết liệt. Trời tối không liên lạc được với nhau, chiến sĩ Mai Chiến Lễ mang hai khẩu AK dìu một đồng đội bị thương, cắt rừng lần mò suốt đêm đến sáng hôm sau mới về tới đơn vị.

Đồng chí Kiểm trợ lý tác chiến Tiểu đoàn 1 hy sinh khi đi làm nhiệm vụ. Hai ngày sau chúng tôi tổ chức đoàn đi tìm. Chúng tôi phân công nhiệm vụ từng tổ, từng người cụ thể, súng lăm lăm hành tiến theo một lối, mỗi tổ cách nhau khoảng 10 m, người đi sau cách người đi trước 5 - 6 m, phát hiện có gì thì dùng tay làm hiệu. Độ là lính công binh cầm một chiếc thanh tre dài hơn 2 m, đầu vót mảnh như nan đan lờ đi trước thận trọng rà dây mìn. Xuất phát từ 7 giờ sáng, đến trưa chúng tôi mới tìm thấy thi thể đồng đội. Kẻ thù rất nham hiểm tinh vi đã gài mìn vào ụ mối, gốc cây, khi ta lấy thi thể tử sĩ là chúng nổ súng, bộ đội mình nấp vào những chỗ lợi thế để chiến đấu sẽ dính mìn. Với kinh nghiệm lính chiến, chúng tôi nhanh chóng triển khai công việc. Độ mau lẹ rà soát mìn khu vực; mỗi khi phát hiện thấy mìn, bằng đôi tay thuần thục, anh lấy kim băng khẽ luồn vào khóa chốt an toàn rồi tháo kíp nổ ra, bỏ mìn vào túi vải đeo bên người. Cẩn trọng nhưng khẩn trương, Độ lần lượt tháo gỡ được 6 quả mìn KP2 bảo đảm an toàn cho đồng đội. Là chiến sĩ tân binh tuổi mười tám đôi mươi bảnh trai, nước da trắng hồng như con gái, giọng Huế nhẹ nhàng, vẻ thản nhiên, Độ nói với tôi: “Mìn sơn mới tinh, căng bằng dây cước xanh rất khó phát hiện thủ trưởng ạ!”. Hoàn thành nhiệm vụ chúng tôi về đến đơn vị cũng vào lúc nắng chiều gần tắt.

Theo lệnh Quân khu, Trung đoàn tiến sâu vào nội địa hướng lên đường 141 (đông nam Mundulkiri) làm nhiệm vụ: tiêu diệt sinh lực quân địch, thu hút sư đoàn 920 của chúng theo ý định tác chiến của ta, chuẩn bị hành lang chiến dịch. Có sự hỗ trợ đắc lực của quân tình nguyện Việt Nam, quân và dân nước bạn đồng loạt nổi dậy tấn công bọn Pôn Pốt, lúc 12 giờ 30 ngày 7-1-1979 đất nước Campuchia được giải phóng.

Trung đoàn 142 cùng lực lượng vũ trang của Campuchia tiến công giải phóng thị xã Cô-nhét, giải phóng tỉnh Mundulkiri. Khi Trung đoàn làm chủ thị xã Cô-nhét cũng đúng lúc quân chủ lực Quân khu 5 bằng cơ giới, xe pháo chở đại binh rầm rập tiến qua trong niềm vui náo nức tưng bừng mừng chiến thắng. Trung đoàn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ truy quét tàn quân địch, giúp bạn ổn định tình hình, đưa đồng bào trở về phum sóc làm ăn. Từng đoàn người dân trang phục màu đen, ông bà già, phụ nữ, trẻ nhỏ mang gùi, xe bò chở đồ đạc chất lỉnh kỉnh lũ lượt trên đường hồi cư. Gặp bộ đội ta, có người nới tiếng Việt lơ lớ: “Việt Nam!”…Chúng tôi chào họ: “cô-rấp-ta” (chào ông), “cô-rấp-đi-ây” (chào bà), “cô-rấp-bong” (chào cô)”.

Trời đã sang xuân, chúng tôi ăn Tết Kỷ Mùi ở Mundulkiri. Xa Tổ quốc nhưng chúng tôi vẫn nhận được nhiều quà tết, bánh kẹo, những lá thư thắm tình hậu phương của các mẹ, các chị, học sinh từ Đắk Lắk và các tỉnh khu 5 gửi đến thăm hỏi, động viên. Chúng tôi vô cùng cảm động trước những tấm lòng yêu thương của nhân dân dành cho các chiến sĩ. Lòng dân bao giờ cũng là điểm tựa vững chắc nhất tiếp sức cho người lính chúng tôi vượt mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để làm nên chiến thắng…

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Trung đoàn 142 Đắk Lắk chuyển về Sư đoàn 315 thuộc Quân khu 5, tiếp tục giúp nước bạn xây dựng bảo vệ đất nước. Qua 10 năm (1979-1989) làm nhiệm vụ quốc tế trên đất nước Campuchia, trải qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, những người lính Trung đoàn nối tiếp các thế hệ, bền gan vững chí chiến đấu, làm tròn nhiệm vụ được giao.

Sau này, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn lần lượt đi xây dựng cuộc sống mới trên mọi miền đất nước, người còn tại ngũ, người về với Đắk Lắk thân yêu, cái nôi của Trung đoàn 142. Song, những kỷ niệm về một thời chiến đấu trên chiến trường Campuchia, về Trung đoàn 142 và đồng đội còn mãi trong ký ức những người lính chúng tôi.

Đoàn Viết Doãn

,