Cây chàm và trang phục của các dân tộc Tây Nguyên
Cập nhật lúc 09:43, Thứ Tư, 25/09/2019 (GMT+7)
.
Các dân tộc sinh sống ở cao nguyên, miền núi nước ta từ lâu đời đã biết khai thác những sản vật thiên nhiên để tạo thuốc nhuộm màu trên trang phục. Trong các loại cây cho màu nhuộm vải thì chàm là cây quan trọng nhất, cùng với những họa phẩm khác làm nên màu sắc đặc trưng trên trang phục của các dân tộc.

Cây thuốc nhuộm được đồng bào phát hiện một cách tình cờ, trong khi phát nương làm rẫy, đi rừng thì các loại mủ cây dính vào vải tạo ra màu sắc loang lổ trên chân tay, áo cái váy...; hay đào được các củ, rễ cây rừng, hái được quả có màu sắc… từ đó nảy ra ý tưởng tạo ra màu nhuộm vải. Trong tâm thức của đồng bào thì đây là phát hiện rất quan trọng, có ý nghĩa như sự trao ân ban phúc của thần linh cho cộng đồng. Có thể nói đây là một trong những “phát minh” của nền kinh tế hái lượm, khai thác tự nhiên do phụ nữ đảm trách, vì vậy mà việc chế biến thuốc nhuộm và kỹ thuật nhuộm vải là bí quyết của riêng phụ nữ. Họ có đủ sự kiên nhẫn, khéo léo để tạo ra các sắc màu, hoa văn độc đáo cho bộ trang phục truyền thống của dân tộc mình.

Cây chàm được cho vào ché ngâm để làm thuốc nhuộm.
Cây chàm được cho vào ché ngâm để làm thuốc nhuộm.

Nguyên liệu chính để chiết xuất màu đen là cây chàm - loại cây mọc trong rừng núi có tên khoa học là indigofera tinctoria và indigofera anil. Người ta chặt cây chàm về lấy cả thân lẫn lá đem ngâm với nước suối trong một cái ché lớn đến khi mục rữa; sau đó vớt thân cây chàm bỏ ra ngoài rồi dùng khúc cây đánh cho lên màu. Để thuốc nhuộm màu phát huy tác dụng, cải thiện sắc thái và nước bóng, đồng bào còn tạo ra một số chất phụ gia làm từ vỏ ốc, hạt ngô, củ nâu. Mỗi ngày người ta nhúng sợi vải vào dung dịch này đến 3 lần và phải qua 3 lần thay nước nhuộm màu mới. Khi cảm thấy chưa đậm, chưa sắc nước thì người ta trộn vôi bột của vỏ ốc xoăn vào nước màu rồi lấy cây khuấy đều cho đến khi thuốc nhuộm trở nên đen tuyền mới đưa sợi vải vào nhuộm màu.

Màu xanh cũng được tạo ra từ nước cây chàm và vỏ ốc suối nhưng dung lượng ngâm ít hơn, chỉ hai lần ngâm - chiếm 1/4 lần so với màu đen (muốn có màu đen phải nhuộm đến 8 lần, màu xanh chỉ mất 2 lần nhuộm). Trong lần nhuộm cuối cùng để cho ra màu đen hay màu xanh, đồng bào thái củ nâu thành lát mỏng, trộn với ít hạt ngô già đã rang cháy thành than cho vào chảo đang sôi. Tiếp đến, người ta cho sợi đã được nhuộm màu vào chảo để luộc. Theo kinh nghiệm dân gian, đây là cách làm để giữ màu không bị phai, làm mềm sợi bông, khi dệt giữa các lớp sợi sẽ không dính vào nhau. Những thợ nhuộm tài ba còn tạo ra một số dạng màu từ đen thẫm, xanh lam sẫm đến màu xám nhẹ, xanh nhạt.

Đối với đồng bào các dân tộc miền núi, nghề dệt thổ cẩm là một phần quan trọng của cuộc sống. Bông vải thu hoạch về, đồng bào chế biến sợi từ màu trắng nguyên thủy của nó, sau đó mới nhuộm để cho ra các màu sợi khác nhau. Những búp sợi có màu khác nhau là nguyên liệu chính để đưa lên khung dệt, tạo ra những tấm thổ cẩm. Trong khi đó, các dân tộc ở miền núi phía Bắc như người Dao, người Hmông dệt thành tấm vải lanh hoàn chỉnh mới mang đi nhuộm màu.

Màu đen hoặc màu chàm luôn là màu chủ đạo, màu nền của trang phục của các dân tộc như Êđê, J’rai, Ba Na, Giẻ Triêng, Cơ Tu... Có thể nói, gam màu này cũng là gam màu đặc trưng của cả vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên vì màu đen và màu chàm là màu trung gian, có vai trò điều tiết sự tương quan, hài hòa màu sắc trên trang phục. Có lẽ, do điều kiện khí hậu khắc nghiệt của vùng rừng núi, để hòa mình với môi trường sống, môi trường lao động, con người buộc phải chọn cho mình một loại trang phục chắc bền, tiện dụng, không quá khoa trương về hình thức, thậm chí hơi khắc khổ. Ngoài những bộ trang phục lễ hội được chăm chút kỹ lưỡng, hầu hết các sản phẩm may mặc được sử dụng trong mọi trường hợp, từ ăn mặc hằng ngày cho đến lao động trên nương rẫy, do đó yêu cầu về bền, chắc, màu tối... được chú ý hơn.

Sợi được giăng lên giàn phơi sau khi nhuộm chàm.
Sợi được giăng lên giàn phơi sau khi nhuộm chàm.

Trước đây, đồng bào thường mặc chiếc áo chàm thuần khiết, sau đó điểm xuyết vài đường viền hoặc những hoa văn đơn giản bằng sợi được nhuộm màu tươi sáng hơn. Tuy là gam màu tối nhưng màu chàm vẫn nổi bật trong không gian miền núi, hợp với khung cảnh thiên nhiên nơi những chủ nhân mặc chiếc áo này sinh sống. Chiếc áo chàm dân dã, được mặc hằng ngày trong lao động, sinh hoạt văn nghệ cũng như sinh hoạt văn hóa tâm linh, trong các lễ hội cổ truyền dân tộc. Vải chàm mặc rất mát, giặt mau sạch, không bị kích ứng da. Đồng bào miền núi dùng vải nhuộm chàm để may quần áo, làm khăn đội đầu, may túi khoác vai, may chăn, nệm... Trên nền vải chàm đằm thắm này, thợ dệt gửi gắm những đường kim mũi chỉ, cắt may, khâu đắp, tạo thành những hoa văn đẹp mắt.

Phương thức nhuộm chàm cổ truyền còn luôn thân thiện với môi trường. Khi nhuộm chàm tự nhiên, lá có thể được sử dụng làm phân bón sau khi thuốc nhuộm được chiết xuất và nước có thể được sử dụng để tưới cho cây trồng.

Tấn Vịnh

,