Phát triển nguồn nhân lực cho vùng Tây Nguyên: Còn nhiều "điểm nghẽn"
Cập nhật lúc 09:02, Thứ Ba, 02/04/2019 (GMT+7)
.

Phát triển nguồn nhân lực cho vùng Tây Nguyên đang đối diện với nhiều khó khăn, bất cập không chỉ vấn đề về số lượng, cơ cấu mà quan trọng nhất là chất lượng rất thấp, có một khoảng cách khá xa so với mặt bằng chung của cả nước.

Điều này đã được lãnh đạo bộ, ngành Trung ương, nhà khoa học tham luận thẳng thắn, tâm huyết tại Hội thảo cấp quốc gia tổng kết 10 năm thực hiện Kết luận số 60-KL/TW, ngày 27-11-2009 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP. Buôn Ma Thuột thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên giai đoạn 2010 - 2020 và chiến lược xây dựng, phát triển TP. Buôn Ma Thuột trở thành đô thị trung tâm đặc sắc riêng của vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, do Tỉnh ủy Đắk Lắk phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương vừa tổ chức.

"Vùng trũng" về phát triển nguồn nhân lực

Dân số vùng Tây Nguyên gần 6 triệu người, bằng 6% dân số của cả nước, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm gần 40%. Thời gian qua, nhờ các chính sách hỗ trợ về GD-ĐT đối với vùng Tây Nguyên nói chung và nhóm DTTS nói riêng đã góp phần tăng tỷ lệ nhập học của học sinh các cấp. Tuy nhiên, Tây Nguyên vẫn là "vùng trũng" nhất về giáo dục với tỷ lệ trẻ em nhập học thấp nhất và cũng chậm cải thiện nhất. Tây Nguyên còn là một trong hai "vùng trũng" về phát triển nguồn nhân lực với tỷ lệ dân số tốt nghiệp THPT chỉ đạt 17,8% (năm 2009), tăng lên 22,9% (năm 2018), so với mức bình quân của cả nước tương ứng là 23,55% và 32,9%, chỉ cao hơn vùng Đồng bằng sông Cửu Long (12,71% và 18,82%). Tỉnh Đắk Lắk có tỷ lệ dân số tốt nghiệp THPT cao nhất vùng Tây Nguyên, đạt 21,42% (năm 2009), tăng lên gần 24,4% năm 2018.

 Sinh viên Trường Đại học Tây Nguyên trong giờ thực hành.
Sinh viên Trường Đại học Tây Nguyên trong giờ thực hành.

Trong giai đoạn 2011 - 2018, tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao của cả nước đã tăng từ 15,5% lên 21,85%, trong khi đó tỷ lệ này của vùng Tây Nguyên chỉ tăng từ 11% lên 14%. Đa số lao động Tây Nguyên (86%) không có chuyên môn kỹ thuật, chủ yếu là lao động phổ thông, làm các nghề đơn giản; trình độ văn hóa, năng lực làm việc, ý thức kỷ luật lao động, tác phong lao động công nghiệp còn thấp nên chưa đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động. Đây là một trở ngại lớn cho Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng trong quá trình phát triển kinh tế.

Tính đến tháng 8-2017, cả nước có 235 trường đại học, nhưng Tây Nguyên chỉ có 4 trường đại học (đến năm 2020 là 5 trường theo quy hoạch tại Quyết định số 37/QĐ-TTg), chiếm 1,7% tổng số trường của cả nước (thấp nhất trong 6 vùng kinh tế). Điều này cho thấy, việc đào tạo lao động có trình độ và kỹ năng cao chưa đủ nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế, nhất là khu vực công nghệ cao và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Và trong tổng số 409 trường cao đẳng của cả nước, chỉ tập trung ở 3 vùng kinh tế trọng điểm: vùng Đồng bằng sông Hồng (33%), vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (21%), vùng Đông Nam Bộ (18%), còn Tây Nguyên có tỷ lệ thấp nhất cả nước (4%). Mạng lưới các trường trung cấp (chiếm 4,4%), cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng tương tự. Chất lượng dạy nghề trong vùng Tây Nguyên còn thấp, quy mô tuyển sinh hạn chế, chủ yếu đào tạo trình độ sơ cấp, thiếu các cơ sở đào tạo ngành nghề kỹ thuật, đặc biệt là ngành nghề kỹ thuật cao, chưa đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động, nhiều trường hợp khi được tuyển dụng phải đào tạo lại.

Để khai thông "điểm nghẽn" đào tạo nhân lực

Một trong những nguyên nhân dẫn đến “điểm nghẽn” trên là do các chính sách đặc thù dành cho phát triển nguồn nhân lực vùng Tây Nguyên chưa đồng bộ, thiếu toàn diện, không đủ lực, nhiều khoảng trống chính sách chưa được đề cập, giải quyết. Điều này đã hạn chế sự hòa nhập của người lao động của vùng Tây Nguyên vào sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đặc biệt là các cơ hội kinh tế mới. Chất lượng việc làm chưa cao, tính ổn định, bền vững trong việc làm và hiệu quả tạo việc làm còn thấp. Thị trường lao động phát triển chậm hơn so với các vùng khác, người lao động là đồng bào DTTS, người dân ở vùng sâu, vùng xa có ít thông tin tiếp cận thị trường lao động.

 

“Để trở thành trung tâm phát triển nguồn nhân lực của vùng Tây Nguyên, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng cần phối hợp với một số tỉnh lân cận để đào tạo các nghề yêu cầu công nghệ cao; đào tạo lại đội ngũ cán bộ với kỹ thuật và kỹ năng mới. Xúc tiến phát triển nguồn nhân lực của đội ngũ công nhân trong khu vực tư nhân, khu vực đầu tư nước ngoài, trong các ngành mũi nhọn, yêu cầu công nghệ cao”.

 
 
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội thẳng thắn chỉ ra: “Thị trường lao động kém phát triển là nguyên nhân khiến đa số lao động Tây Nguyên làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức (lao động tự làm và trong kinh tế hộ gia đình) chiếm đến 77% so với mức 54% của cả nước, trong khi đó tỷ lệ làm công ăn lương chỉ chiếm 22% so với mức gần 44% của cả nước”. Qua đó cho thấy, tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành nghề theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Tây Nguyên còn chậm. Kinh tế hiện tại chủ yếu là thuần nông, chưa có vùng chuyên canh về nông nghiệp, vùng sản xuất sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao… Các hình thức sản xuất tự phát, nhỏ lẻ, theo mùa vụ, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên vì vậy năng suất lao động thấp. Số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chế biến và xây dựng, thương mại, dịch vụ ít do vậy người lao động tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, các trường nghề ít tìm được việc làm hoặc làm việc trái với chuyên môn đào tạo, gây lãng phí cho xã hội.

Trong thời gian tới, sự phát triển kinh tế đặt ra yêu cầu cấp bách về tăng cả quy mô lao động kỹ năng và chất lượng đào tạo kỹ năng, do vậy hệ thống giáo dục đào tạo và giáo dục nghề nghiệp cần phải đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động Tây Nguyên với các phân khúc khác nhau. Cần đổi mới toàn diện công tác quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực, tiếp tục hiện thực hóa quan điểm “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho con người”. Cùng với đó, giảm bớt khoảng cách và sự tụt hậu của nguồn nhân lực Tây Nguyên so với cả nước thông qua tạo môi trường thuận lợi để tiếp cận đào tạo, học tập suốt đời, kết nối giữa các bậc giáo dục đào tạo và giáo dục nghề nghiệp. Tăng cường chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trên cả 3 phương diện: kiến thức, kỹ năng và hành vi, thái độ, đặc biệt tập trung vào hình thành các kỹ năng mềm, nâng cao năng lực thích ứng nghề nghiệp của nhân lực, đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp. Chú trọng nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế của các tỉnh Tây Nguyên trong thời gian tới với các trụ cột: đội ngũ công chức, doanh nhân, nhân lực khoa học - công nghệ, bác sĩ, giảng viên, luật sư, kinh doanh quốc tế, công nhân kỹ thuật bậc cao, doanh nhân khởi nghiệp.

Trường Cao đẳng Kỹ thuật Đắk Lắk chú trọng đào tạo kỹ năng thực tế cho học sinh, sinh viên.
Trường Cao đẳng Kỹ thuật Đắk Lắk chú trọng đào tạo kỹ năng thực tế cho học sinh, sinh viên.

Xung quanh vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho Tây Nguyên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình khẳng định: "Tây Nguyên bây giờ là phải phát triển nguồn nhân lực. Nhưng không phải vì thế là phải xây dựng trường đại học, mở thêm các cơ sở đào tạo nghề, để rồi không có sinh viên đến học, hay sinh viên tốt nghiệp ra không có việc làm. Vấn đề đặt ra là phải đào tạo ngay các ngành nghề xã hội đang có nhu cầu, sau khi học ra là có việc làm ngay, hoặc ứng dụng ngay kiến thức được học vào sản xuất. Điều này có nghĩa là đào tạo phải gắn với cuộc sống, gắn với nhu cầu nhân lực của xã hội và hiệu quả bền vững lâu dài".

Nguyên Hoa

 

,