KỶ NIỆM 130 NĂM NGÀY SINH CỤ NGUYỄN VĂN TỐ (5-6-1889 – 5-6-2019)
Tài năng và nhân cách lớn của nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Văn Tố
Cập nhật lúc 08:31, Thứ Tư, 05/06/2019 (GMT+7)
.
Cụ Nguyễn Văn Tố (bút hiệu Ứng Hòe) sinh ngày 5-6-1889 trong một gia đình nhà nho, thuộc làng Đông Thành (nay là phố Bát Sứ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội). Ngay từ nhỏ, Nguyễn Văn Tố đã thể hiện tư chất thông minh.

Tiểu sử và quá trình hoạt động của cụ Nguyễn Văn Tố

Năm 16 tuổi (1905), Nguyễn Văn Tố đỗ đầu cuộc thi ngạch Phán sự - Thông dịch do Tòa Thống sứ Bắc Kỳ tổ chức. Năm 17 tuổi (1906), Nguyễn Văn Tố được chính thức vào làm việc tại Học viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) của Pháp tại Hà Nội và từng bước thăng tiến, giữ chức Chủ sự dưới quyền giám đốc EFEO cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công.

Ngày 16-3-1930, Nguyễn Văn Tố được Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục và Mỹ thuật Pháp bổ nhiệm là Viên chức Hàn lâm của EFEO. Năm 1933 - 1936, ông được Giám đốc EFEO bổ nhiệm trợ lý hạng 3 và được bầu làm Hội trưởng Hội Trí Tri. Năm 1938, Nguyễn Văn Tố được cử là Hội trưởng Hội truyền bá học chữ Quốc ngữ Bắc Kỳ.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ Nguyễn Văn Tố làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội của Chính phủ lâm thời trong bối cảnh cấp thiết chống đói, chống dốt cho nhân dân.

Ngày 6-1-1946, trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), cụ Nguyễn Văn Tố trúng cử đại biểu Quốc hội, là đại biểu của tỉnh Nam Định. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, cụ Nguyễn Văn Tố được bầu là Trưởng ban Thường trực của Quốc hội (tương đương chức danh Chủ tịch Quốc hội hiện nay). Từ tháng 11-1946, cụ Nguyễn Văn Tố được cử là Bộ trưởng không bộ.

Ngày 19-12-1946, cụ Nguyễn Văn Tố cùng Chính phủ cách mạng rút lên Việt Bắc tiếp tục kháng chiến chống Pháp. Ngày 25-10-1947, trong đợt tiến công của thực dân Pháp lên Việt Bắc, cụ bị chúng bắt tại Bắc Kạn khi chưa kịp di chuyển về nơi an toàn. Mặc dù bị tra tấn dã man, nhưng cụ vẫn thể hiện tinh thần kiên trung, bất khuất trước kẻ thù và anh dũng hy sinh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Nguyễn Văn Tố (hàng đầu từ trái sang) tại Lễ mít tinh vận động  cứu đói tổ chức trước Nhà hát lớn Hà Nội năm 1945.  Nguồn: Văn phòng Quốc hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Nguyễn Văn Tố (hàng đầu từ trái sang) tại Lễ mít tinh vận động cứu đói tổ chức trước Nhà hát lớn Hà Nội năm 1945. Nguồn: Văn phòng Quốc hội

Ghi nhận và tri ân sâu sắc công lao, cống hiến to lớn của cụ Nguyễn Văn Tố đối với đất nước, Đảng và Nhà nước đã tổ chức trọng thể truy tặng cụ Nguyễn Văn Tố Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất và cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

Công lao và cống hiến to lớn của cụ Nguyễn Văn Tố

Là nhà trí thức yêu nước, cụ Nguyễn Văn Tố để lại nhiều công trình nghiên cứu liên ngành và chuyên sâu, bao quát nhiều lĩnh vực khoa học xã hội, như sử học, văn học, văn bản học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, dân tộc học, tôn giáo học, văn hóa học, văn hóa dân gian, kiến trúc nổi bật. Cụ cũng là người Việt Nam duy nhất được phép sửa văn Pháp cho mọi bài viết đăng trên Tập san Viễn Đông Bác cổ (BEFEO), kể cả bài viết của Giám đốc người Pháp George Coedès.

Năm 1938, cụ Nguyễn Văn Tố được cử làm Hội trưởng Hội truyền bá chữ quốc ngữ Bắc Kỳ. Trong suốt 7 năm (từ 1938 - 1945), Hội truyền bá chữ quốc ngữ đã mở 17 chi nhánh ở Bắc Kỳ với 820 lớp học, có 2.903 giáo viên đã dạy cho 41.118 người biết đọc, biết viết và ở khu vực Trung Kỳ thành lập 11 chi nhánh; đồng thời thu hút nhiều nhà trí thức tên tuổi tham gia như: Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Xiển, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Văn Giáp, Hoàng Xuân Hãn… Nhiều hội viên Hội truyền bá chữ quốc ngữ trở thành những chiến sĩ cách mạng, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền.

Cụ Nguyễn Văn Tố trong bữa tiệc hằng năm của Hội truyền bá chữ Quốc ngữ.  Trong ảnh: Cụ Nguyễn Văn Tố mặc áo dài đen (hàng trên cùng, thứ bảy từ trái sang). Nguồn: Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước.
Cụ Nguyễn Văn Tố trong bữa tiệc hằng năm của Hội truyền bá chữ Quốc ngữ. Trong ảnh: Cụ Nguyễn Văn Tố mặc áo dài đen (hàng trên cùng, thứ bảy từ trái sang). Nguồn: Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước.

Năm 1941, cụ Nguyễn Văn Tố tham gia sáng lập Tạp chí Tri Tân với mục đích là “để xem xét việc đời xưa mà hiểu biết việc đời nay thì có thể làm thầy thiên hạ”. Cụ Nguyễn Văn Tố đã soạn thảo hai bộ sử học đồ sộ “Đại Nam dật sử” và “Sử ta so với sử Tàu” để làm sâu sắc thêm lịch sử nước nhà và góp phần tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, nêu cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc.

Cụ Nguyễn Văn Tố đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp khoa học, nhất là khoa học xã hội nhân văn; chống nạn thất học, nâng cao dân trí. Cụ là tấm gương mở đường cho đội ngũ nhân sĩ, trí thức đem tài năng, trí tuệ, sức lực cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Trên cương vị là Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Cứu tế xã hội, tuy thời gian không dài (25-8-1945 – 2-3-1946), nhưng vào thời điểm khó khăn nhất, khi chính quyền cách mạng trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố đã có những đóng góp to lớn vào việc giải quyết nạn đói, nạn dốt, hai trong ba loại giặc nguy cấp của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Ngày 2-11-1945, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố đã quyết định thành lập Hội cứu đói. Để giải quyết tận gốc nạn đói, Chính phủ đã lập Ủy ban Trung ương phụ trách sản xuất. Ngày 15-11-1945, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc dân kinh tế ký Nghị định số 41-BKT đưa ra các biện pháp khuyến khích tận dụng nguồn đất đai trồng màu cứu đói và phối hợp Bộ Canh nông tổ chức thêm những cơ sở gia tăng tập thể, dùng nguồn đất công cộng gia tăng sản xuất, chỗ nào có đất trống đều trồng trọt rau màu… Do vậy, kết quả sản lượng màu đã tăng gấp 4 lần so với thời kỳ Pháp thuộc, trong 6 tháng (tháng 11-1945 đến tháng 5-1946) đã đạt 614.000 tấn quy ra thóc là 506.000 tấn và nạn đói đã bị đẩy lùi.

Không chỉ có đóng góp to lớn đối với việc giải quyết nạn đói, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố cùng với thành viên Chính phủ từng bước thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt “giặc dốt”. Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố chủ trương kết hợp chặt chẽ và có hiệu quả giữa cơ quan học vụ của nhà nước với các đoàn thể cứu quốc để nâng cao dân trí cho hàng triệu đồng bào. Trong một thời gian ngắn, Bộ Cứu tế xã hội và Nha Bình dân học vụ đã tổ chức được 3 lớp huấn luyện đào tạo đội ngũ cán bộ bình dân học vụ cho cấp tỉnh mang tên “khóa học Hồ Chí Minh”, “Phan Thanh” và “Đoàn kết”.

Ngày 2-3-1946, tại Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I, các đại biểu đã nhất trí bầu cụ Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội (tương đương chức danh Chủ tịch Quốc hội ngày nay). Trưởng ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố đã cùng các thành viên trong Ban Thường trực nhanh chóng bắt tay vào củng cố nhà nước, xây dựng nền dân chủ, thống nhất dân tộc, sẵn sàng kháng chiến toàn quốc.

Các thành viên Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946. (Hàng đầu, từ trái sang phải: Cụ Nguyễn Văn Tố, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ Huỳnh Thúc Kháng).
Các thành viên Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946. (Hàng đầu, từ trái sang phải: Cụ Nguyễn Văn Tố, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ Huỳnh Thúc Kháng).

Ngày 6-3-1946, Trưởng ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố tham dự cuộc họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ chủ trì. Hội đồng đã bàn bạc và nhất trí ký Hiệp định sơ bộ với Pháp theo các điều kiện đã được thỏa thuận. Biên bản cuộc họp đặc biệt sáng ngày 6-3-1946, có chữ ký của Trưởng ban Thường trực Quốc hội cùng các thành viên Chính phủ và Ủy ban kháng chiến, tán thành ký kết Hiệp định sơ bộ 6-3-1946. Đây là Hiệp ước tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ nền độc lập dân tộc trong giai đoạn đầu của chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ban Thường trực Quốc hội dưới sự chỉ đạo của Trưởng ban Nguyễn Văn Tố luôn góp sức cùng Chính phủ giải quyết những khó khăn của đất nước. Đặc biệt ngày 9-11-1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa...

Ngày 3-11-1946, Chính phủ mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu được thành lập gồm 12 bộ. Cụ Nguyễn Văn Tố được cử là Bộ trưởng không bộ.

Đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến và thành lập Ủy ban Trung ương tản cư và di cư. Ngày 22-1-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 8-SL thành lập Ủy ban tản cư và di cư, gồm có cụ Bùi Bằng Đoàn làm Chủ tịch, cụ Nguyễn Văn Tố làm Phó Chủ tịch Ủy ban tản cư và di cư, cùng với 8 ủy viên khác đại diện cho các Bộ. Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố đã tích cực động viên nhân dân các vùng nhanh chóng chuẩn bị tản cư đến vùng an toàn và nhân dân các vùng có chiến sự triệt để thi hành chính sách “vườn không nhà trống”, tản cư ra vùng tự do.

Ngày 7-10-1947, thực dân Pháp mở cuộc tấn công lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của nhân dân ta. Trong cuộc tiến công vào thị xã Bắc Kạn, thực dân Pháp đã bắt được Bộ trưởng Nguyễn Văn Tố. Chúng tìm mọi cách mua chuộc, dụ dỗ, thậm chí tra tấn dã man, tàn độc để buộc cụ kêu gọi các chiến sĩ cách mạng ra hàng; nhưng chúng đã bị thất bại trước tấm lòng kiên trung của cụ.

Theo Ban Tuyên giáo Trung ương

,