Nhớ Tết xưa...

Trong ký ức của tôi, Tết không bắt đầu từ những tờ lịch rơi mà bắt đầu từ cái rét ngọt lịm thắt vào da thịt. Đó là khi những cơn gió thổi rạp những đám cỏ xanh pha sắc vàng úa bên bìa rừng và đêm về, sương móc lặng lẽ rơi, đậu trên mái lá cọ. Mỗi sớm mai thức dậy, tôi ngỡ mình sống giữa cõi thần tiên khi thấy làn mây trắng tràn qua khung cửa sổ, ùa vào trong nhà sàn, quấn quýt lấy từng bước chân người đi đường như những dải lụa mềm.

Miền núi Thanh Hóa những năm 1990 ấy, cái nghèo vẫn hiện hữu trong từng nếp áo vải thô nhưng không khí Tết thì chưa bao giờ vơi bớt niềm háo hức. Ngày giáp Tết, bố tôi lại tất bật chuẩn bị cùng dân bản đi tháo ao hợp tác xã. Đó là ngày hội của bản làng. Lũ trẻ chúng tôi vây kín bờ ao háo hức xem cảnh chia cá, trong khi các bà, các chị lội dưới bùn tranh thủ mò tôm, bắt tép. Tiếng cười nói xôn xao cả một góc rừng...

Nam thanh nữ tú bản làng ngày xuân.

 

Năm chín tuổi, tôi đã biết theo các anh chị vào rừng chặt những cây luồng già bán cho thương lái. Số tiền bán luồng tôi dành để mua cho mình một chiếc quần mới và một gói mứt Tết bé tẹo có in hình pháo Bình Đà. Gói mứt ấy được trân trọng đặt lên bàn thờ làm bằng chiếc bàn bốn chân đơn sơ. Để sắc xuân thêm thắm, chúng tôi lên rừng chọn chặt cành đào đẹp nhất, đốt gốc cho nhựa đọng lại rồi mới cắm vào ống bương, trong ống có nước suối. Lạ thay, những nụ đào ấy cứ chúm chím nở mãi qua cả những ngày Tết muộn. Mà đâu chỉ có đào, cả bản làng tôi những ngày ấy như chìm vào thế ngoại đào nguyên. Khắp các nẻo đường vào bản, hoa mận, hoa mơ dịu dàng xen lẫn vị nồng nàn, trắng muốt của hoa bưởi lả tả rụng, dệt thành tấm thảm hoa nâng đỡ gót chân người...

​Ở bản người Thái, nhà nào cũng có vài chum rượu cần tự tay những người mẹ, người chị ủ để dành đón Tết. Tôi nhớ cụ Khăm Phanh tài hoa bên chum rượu, tay vung thanh kiếm sắc lẹm, đường kiếm đi lắt léo luồn lách qua những chiếc cần trúc mỏng manh mà tuyệt nhiên không bao giờ chạm phải.

​Khi lửa đượm, rượu đã ngấm, bầu không khí lại chuyển mình theo những cung bậc cảm xúc của người già. Chúng tôi như lạc vào cõi khác khi cụ Khăm Phanh lên giọng hào hùng kể về những trận đánh xoay chuyển càn khôn trong “Xảm Cốc - Tam Quốc”. Lời kể của cụ như có tiếng ngựa hí, gươm khua, khiến lồng ngực đứa trẻ nào cũng phập phồng theo từng kế sách của Khổng Minh. Thế rồi, không gian bỗng chốc chùng xuống, trở nên trầm mặc khi cụ Khăm Lả cất giọng hát kể về mối tình “Khủn Lu - Nàng Ủa” bằng tiếng Thái. Giọng hát như rút ra từ gan ruột, nương theo ánh lửa bập bùng len lỏi vào từng góc khuất tâm hồn. Tất cả mọi người đều ngồi im phăng phắc như nuốt lấy từng lời, biến gian nhà sàn thành một thế giới huyền thoại đầy mê hoặc.

Bản làng người Thái ẩn hiện trong rừng hoa đào.

 

Dù đêm trước mải mê nghịch ngợm nhưng sáng mùng  1 tôi luôn tự giác dậy thật sớm để theo bà nội ra bến suối. Bà bảo, phải dậy sớm rửa mặt ở dòng nước đầu nguồn thì mới đón được “Cam phạ” - lộc của trời. Trong trí tưởng tượng non nớt và thuần khiết của tôi ngày ấy, “Cam phạ” không phải là thứ gì xa xôi mà hẳn phải là một vật thể hữu hình, trắng muốt như cùi dừa già, ăn vào sẽ có vị ngọt lịm và mát lành của sương núi. Tôi tin chắc rằng ai sớm tay nhận được lộc trời ấy sẽ mau lớn, thông minh, đĩnh ngộ và có một đời trường thọ, an yên.

Đẹp nhất là cảnh từng tốp nam thanh, nữ tú cùng tụ tập bên bờ suối, đốt đống lửa to từ củi trôi sông, thổi khèn bè và say sưa dập dìu múa hát. Chúng tôi quây quần bên lửa, nướng những con cá vừa mò được dưới suối giữa tiết trời lạnh giá, nhìn mây lãng đãng bay trên những cánh hoa rừng trắng, đỏ, tím, vàng...

Ẩm thực Tết còn có món thịt lợn muối chua mẹ làm trong ống nứa. Khi Tết vơi cũng là lúc ống thịt cạn dần. Bà nội tôi thường than rằng: “Ít bữa nữa ăn hết thịt chua này, không biết lấy gì làm thức ăn đây?”. Nghe bà nói, tôi dõng dạc hứa: “Con sẽ đi đơm đó, đi câu cá về nướng làm chẩm chéo để bà bồi bổ nhé!”. Lời hứa của đứa cháu nhỏ làm bà cười hiền, xua đi nỗi lo toan ngày giáp hạt.

Khi Tết qua đi, cha mẹ lại lên nương trồng lúa nếp, ngủ luôn trên đó. Bản làng trở lại vẻ tĩnh lặng, chỉ còn người già, trẻ nhỏ và những rặng xoan tím ngắt lặng lẽ rụng rơi về phía chân trời. Chúng tôi trở lại trường với đôi chân trần chai sạn vì gai rừng và đá tai mèo, tíu tít kể cho nhau nghe về niềm vui ngày Tết. Trong lòng mỗi đứa trẻ năm ấy đều chung một ước mong: Mong Tết mau về để cha mẹ không phải ngủ nơi rẫy xa, để cả nhà lại được đoàn viên bên bếp lửa rực hồng…

Khăm Kẹo Tha Na Sủn Thon

Ý kiến của bạn