Giấc mơ hạnh phúc

Cuốn tiểu thuyết Nụ cười hoa hướng dương của nhà văn Đào Quốc Vịnh thuộc loại “sách không dễ viết”. Nó bám đuổi những cuộc trò chuyện không dứt trong suốt mấy năm trời của bé Trí Dân - một đứa trẻ mắc chứng tự kỷ.

Cậu tự nói với mình. Cậu nói với mẹ, với bà ngoại, với cô giáo và bạn bè bằng tiếng nói của sự bất lực, nhiều khi phải thét rất to mà không ai hiểu cậu. Thế cho nên cậu phải dùng đến trò quậy phá, đến nắm đấm và chạy trốn khỏi lớp.

Nụ cười hoa hướng dương - NXB Hội Nhà văn 2025

Phải là người hiểu về những đứa trẻ không bình thường, hiểu về trường học, tâm lý thầy cô giáo, hiểu về cách chữa trị cho các bệnh đặc biệt thì mới có thể hoàn thành một cuốn sách xuyên suốt một giọng kể của nhân vật chính Trí Dân. Đó là giọng kể tiết chế, nhẫn nại, trong trẻo, với những câu văn ngắn, đều đều, gắn với vật thể cụ thể, tránh những tu từ lộng lẫy. Nhiều đoạn gần như “không có sự kiện”. Và văn phong mang nhịp “can thiệp trị liệu” chậm - lặp - bền, phổ biến nhất là lặp từ.

Không tách ra thành những chương riêng biệt, nhưng qua câu chuyện của bác sĩ Cao, một bác sĩ thần kinh nổi tiếng và nhân hậu, cùng với kinh nghiệm của các thầy giáo, cô giáo, Nụ cười hoa hướng dương giúp độc giả hình dung về căn bệnh tự kỷ để có phương thuốc đúng.

Và có lẽ đây chính là tư tưởng nhân văn của cuốn sách, cũng là sự hấp dẫn của câu chuyện: Tự kỷ không phải là một căn bệnh lây nhiễm, cũng không phải “án phạt” của số phận.

Đó là một rối loạn phát triển thần kinh xuất hiện sớm ở trẻ em, thường trước 3 tuổi, khiến các em gặp khó khăn trong giao tiếp, tương tác xã hội và hành vi. Nó là căn bệnh không ồn ào. Nó lặng lẽ đi vào cuộc sống của gia đình, đôi khi chỉ bằng những dấu hiệu rất mơ hồ: đứa trẻ ít nói, không nhìn vào mắt người đối diện, nhưng trong đầu thì đang sôi sục những âm thanh chát chúa.

Trí Dân đã đánh cô giáo trẻ bởi vì có người nào đó xui cậu:  “Cậu hãy đánh cho cô ấy một cái... đánh một cái... vào mặt nhé nhe...é”! (trang 53). Lúc khác cậu trốn học vì thích sang siêu thị AEON: “Tôi thích ngồi trên chiếc xe ô tô điện lao vun vút trên cái sân tròn quay rầm rầm” (trang 154).

Câu chuyện của cậu bé Trí Dân cuốn hút từ đầu đến cuối qua các bước chân của mẹ, của bà ngoại, của người anh cùng cha khác mẹ. Còn người bố, một trí thức có điều kiện kinh tế khá giả nhưng đã chia tay mẹ. Trong đầu ông bố này luôn ám ảnh một sự ngờ vực, ông ngoại của Dân tham gia kháng chiến, có thể đã nhiễm chất độc hóa học và để lại di chứng cho con cháu.

Trong suốt cuộc di chuyển của hai mẹ con qua nhiều trường học phổ thông và chuyên biệt thường chỉ có người mẹ tên Vân lặng lẽ và bền bỉ theo bước chân con. “Con có mẹ như măng ấp bẹ”, người mẹ cô đơn ấy lặng thầm theo dõi, chứng kiến từng thay đổi nhỏ trong nhận thức, hành động của con, khi nó đã tự xúc được thìa cơm, khi đã phát âm được một từ tròn vành rõ chữ. Nhưng tai vạ mà cậu gây ra thì bất ưng bất đừng: tát cô giáo, đánh bạn, đập vỡ công trình phụ, bỏ trốn khỏi trường... Rất may mắn, mẹ con Vân luôn được các thầy, cô giáo thương yêu, chia sẻ.

Qua câu chuyện của thầy giáo, của bác sĩ, Vân hiểu rằng, tự kỷ không phải do cha mẹ nuôi dạy sai, cũng không phải vì thiếu yêu thương, mà do não bộ của trẻ  “khôn” lên một cách khác biệt. Chính vì thế, tự kỷ rất khó chữa khỏi hoàn toàn theo nghĩa thông thường. Mọi can thiệp chỉ nhằm giúp trẻ phát triển tối đa khả năng vốn có, học cách giao tiếp, tự lập và hòa nhập ở mức độ phù hợp.

May thay, trong hành trình đi tìm nụ cười, với tấm lòng yêu thương của bà, của mẹ và nhất là của các thầy, cô giáo, Trí Dân cũng như những bạn bè khác bị khiếm khuyết về trí não đã từng bước hòa nhập.

Sau này các em đã học lên lớp 5, lớp 6. Mỗi đứa trẻ tự kỷ là một thế giới riêng, cần một con đường riêng. Ngay mở đầu tiểu thuyết tác giả đã giới thiệu khung cảnh buổi học cuối năm lớp 4 của Trí Dân khi chỉ còn vài ngày nữa là kết thúc năm học và mẹ con cậu sẽ được đi du lịch, điều mà cậu mê nhất.

Lấp lánh sau những câu chuyện buồn tủi là tấm lòng nhân hậu của các bậc làm cha mẹ, của các thầy giáo, thầy thuốc. Tình yêu thương ở đây không phải là nuông chiều, cũng không phải là thương hại, mà là sự kiên nhẫn, bền bỉ mỗi ngày. Là việc lặp đi lặp lại một bài tập tưởng như vô nghĩa. Là chấp nhận rằng con mình có thể không giống con người khác, nhưng vẫn xứng đáng được tôn trọng và trao cơ hội. Hôm nay bà ngoại chỉ mong cháu sớm biết cầm thìa, cầm đũa tự ăn cơm.

Ngày mai biết gọi “Bà ơi” tròn tiếng. Và ngày mai, ngày mai nữa... Khi cộng đồng mở rộng vòng tay, khi trường học sẵn sàng điều chỉnh, khi người lớn học cách thấu hiểu sự khác biệt, những đứa trẻ tự kỷ sẽ có thêm không gian để lớn lên.

*

*     *

Nghệ thuật viết tiểu thuyết Nụ cười hoa hướng dương có gì đáng nói? Có lẽ đó là sự chân thành, tin cậy. Khi người lớn viết cho trẻ em điều đầu tiên phải dặn mình hóa thân vào thế giới của các bé, phải nhìn thế giới bằng con mắt và quan năng của  chúng. Trong tiểu thuyết này, Đào Quốc Vịnh không viết về trẻ theo cách “người lớn nói ngây thơ”, biết tiết chế những hành vi bộc phát (la hét, đánh, phá). Khéo léo tạo một khoảng trống hoặc cảm giác “sai” nhưng không gọi tên được. Tác giả cũng không “triết lý” hộ chúng mà cứ để cho sự thiếu hụt trở thành giọng điệu, không phải khiếm khuyết: “Tôi vô tình ném quả bóng trúng mặt đứa bạn gái bên cạnh làm nó hốt hoảng nhoài người trong cái bể những bóng là bóng, miệng líu ríu gọi bố mẹ để thoát thân. Tôi nhoài người theo định nói một câu xin lỗi, nhưng tôi càng nói nó càng sợ xám mặt. Tôi càng chứng tỏ mình là người tốt  bao nhiêu thì càng làm cho nó sợ hãi bấy nhiêu” (trang 153). Đặc biệt, độc giả cảm thấy nhẹ nhõm khi cùng trải lòng theo bước chân những học trò đặc biệt đến trường. 

Cuốn sách đã tránh được điều này: Biến trẻ tự kỷ thành biểu tượng đạo đức. Thần thánh hóa người mẹ và các cô giáo. Cũng không sa vào giảng giải kiến thức y học dài dòng. Điều quan trọng nhất là làm bật lên những chùm hoa mặt trời mang ý nghĩa: Đây không phải câu chuyện chuyên chú về chữa bệnh, mà là câu chuyện con người học cách ở lại bên nhau. Đọc những trang cuối thấy thật ấm lòng khi bố mẹ Trí Dân đã hiểu nhau, đã tựa vào nhau. Anh thương chị thắt lòng khi nghe vợ kể với bác sĩ về sự đau đớn khi chuyển dạ sinh bé Trí Dân. Bác sĩ đã giải thích rằng, chính vì nước ối cạn đã gây thiếu ôxy não. Do khiếm khuyết hệ vận động mà cháu không có ngôn ngữ. Khi khó diễn đạt bằng lời tất sẽ nảy sinh gào thét, cáu bẳn, tức giận (trang 228).

Câu chuyện dừng lại bằng một cái kết mở. Vẫn là ngôn ngữ kể chuyện còn ngọng nghịu của Trí Dân: “Tôi  đứng nép vào bố, nhìn mẹ. Đôi mắt mẹ ánh lên những tia nắng lung linh trên nụ cười của những bông hoa trong rừng hoa hướng dương mà tôi đã khỏa mình trong giấc mơ hạnh phúc”.

Cái kết mở ấy nói với mọi người: Giấc mơ hạnh phúc không ở đâu xa. Nó ở ngay trong tầm tay ta, chỉ cần một tấm lòng đủ ấm để chạm tới.

Hải Đường

Ý kiến của bạn