Trong bối cảnh mùa khô ngày càng khắc nghiệt, nguy cơ cháy rừng gia tăng, tỉnh Đắk Lắk luôn chú trọng công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu.
Cụ thể, tỉnh đưa nội dung này vào Danh mục nhiệm vụ, chương trình, đề án thực hiện nhiệm vụ trọng tâm và các khâu đột phá giai đoạn 2026 - 2030 trong Chương trình hành động số 11 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Đơn cử là xây dựng, hoàn thiện hệ thống bản đồ rủi ro thiên tai, hệ thống cảnh báo sớm thiên tai; thực hiện Dự án ứng dụng công nghệ cao trong công tác quản lý, giám sát, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng; nâng cao năng lực cho lực lượng quản lý và phòng cháy, chữa cháy rừng...
![]() |
| Kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Đôn tuần tra bảo vệ rừng. Ảnh: Vạn Tiếp |
Thực tế, lực lượng kiểm lâm đóng vai trò nòng cốt trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đây là lực lượng trực tiếp bám địa bàn, tuần tra, phát hiện và xử lý vi phạm. Tuy nhiên, với diện tích tự nhiên rộng thứ ba cả nước, “lá phổi xanh” đa dạng sinh thái trải dài từ đại ngàn đến ven biển khi tỉnh sở hữu tổng diện tích có rừng 780.775 ha, sẽ khó có một lực lượng nào có thể thực hiện tốt nhiệm vụ nếu thiếu sự phối hợp đồng bộ.
Quy định đã có, nhưng vấn đề là cần thay đổi tư duy giữ rừng - đó phải là trách nhiệm chung. Trước hết, chính quyền cơ sở phải thật sự là tuyến đầu trong phòng cháy, chữa cháy rừng. Công tác tuyên truyền, ký cam kết, kiểm soát việc sử dụng lửa trong dân đến xử lý vi phạm... cần được thực hiện thường xuyên, không chờ đến khi xảy ra sự cố.
Bên cạnh đó gắn trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu địa phương với kết quả bảo vệ rừng. Thực tế cho thấy, nơi nào chính quyền vào cuộc quyết liệt, nơi đó nguy cơ cháy rừng được kiểm soát tốt hơn. Ngược lại, khi xem giữ rừng là “việc của ngành lâm nghiệp”, nguy cơ vẫn còn hiện hữu.
Phần lớn các vụ cháy rừng bắt nguồn từ con người, từ đốt rẫy thiếu kiểm soát, xử lý thực bì bất cẩn, sơ suất trong sinh hoạt... Nếu những nguy cơ này không được kiểm soát từ sớm, mọi nỗ lực chữa cháy về sau chỉ mang tính đối phó, tốn kém mà hiệu quả hạn chế.
Đối với các chủ rừng, việc được giao rừng phải đi liền với trách nhiệm giữ rừng. Phương án phòng cháy, chữa cháy, lực lượng tại chỗ, các đường băng cản lửa… cần được chuẩn bị và duy trì thực chất. Khi xảy ra cháy, chính lực lượng tại chỗ là yếu tố quyết định trong việc khống chế đám cháy từ sớm.
Người dân sống gần rừng cũng là lực lượng “tai mắt” hiệu quả nhất. Khi được vận động đúng cách và gắn quyền lợi với trách nhiệm, họ không chỉ phát hiện sớm nhất, xử lý ban đầu hiệu quả nhất mà còn chủ động bảo vệ rừng.
Ở đây, sinh kế là yếu tố then chốt. Khi đời sống còn phụ thuộc vào khai thác ngắn hạn, nguy cơ tác động tiêu cực đến rừng vẫn còn. Ngược lại, nếu người dân có thu nhập ổn định từ rừng - thông qua các chính sách giao khoán, dịch vụ môi trường rừng, mô hình sản xuất bền vững… - thì bảo vệ rừng sẽ trở thành nhu cầu tự thân.
Cần nhấn mạnh rằng, mọi sự chủ quan, chậm trễ đều có thể dẫn đến hậu quả lớn. Và, chỉ khi không còn tư duy “khoán trắng”, khi từng cấp, từng ngành, từng người dân cùng vào cuộc với vai trò rõ ràng, rừng mới thật sự được bảo vệ bền vững. Đó cũng là cách bảo vệ môi trường sống, bảo đảm sinh kế và tương lai phát triển lâu dài.
Minh Khuê

