Nhà thơ Văn Thảnh (1952 - 2026) nổi tiếng với những tác phẩm mang đậm chất liệu văn hóa dân gian Tây Nguyên: “Trước ô cửa nhà dài” (in chung, 1993); “Mưa gió Ayray” (2000); trường ca: “Bài ca đỉnh núi” (2000); trường ca: “Lời tượng mồ buôn Atâu” (2006).
Trong đó, tập thơ “Mưa gió Ayray” gồm 43 bài thơ, thể hiện cảm xúc nồng cháy, lắng sâu của thi nhân về mảnh đất, con người và văn hóa Tây Nguyên.
Đọc tập thơ, người đọc cảm nhận được hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ và nên thơ, hình ảnh con người Tây Nguyên với cuộc sống khó khăn, vất vả nhọc nhằn nhưng vẫn ánh lên vẻ đẹp tâm hồn bình dị, hòa quyện trong sắc màu văn hóa truyền thống của các dân tộc, qua rung động của một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế.
Bài thơ “Ayray” được viết theo kết cấu và âm hưởng của điệu ayray, một làn điệu dân ca trữ tình nổi tiếng của người Êđê: “Anh sung sướng bỏ dở dang câu hát/ theo em về làm chồng/ câu hát ông bà ta cùng để lại/ đời nào cũng hát dở dang/ đôi lứa nào cũng hát dở dang”. Điệu ayray gắn với cuộc đời con người, nhất là người phụ nữ Êđê nhọc nhằn, lam lũ, thầm lặng hy sinh, gánh vác trách nhiệm hết sức nặng nề với gia đình và cộng đồng làng buôn.
![]() |
Nhà thơ Văn Thảnh đã cảm nhận tinh tế những âm thanh của đing tút trong mùa “bỏ mả”: “pi u…pi u…/ sáu ống nứa/ thổi rỗng lòng/ lạnh núi/ chiều buông/ sáu đoạn trống không”. Đó là âm thanh của đại ngàn, của rừng, của suối: “sáu con suối reo/ sáu cơn gió thổi/ động rừng/ lốc núi”, là sức mạnh của thiên nhiên dữ dội, gắn với vui buồn của đời người: “pi u…pi u…/ sáu ống nứa/ sáu cuộc đời sáu khúc riêng tư/ khóc cười còn dở”. Sử thi (khan) là một loại hình văn hóa đặc sắc và độc đáo của đồng bào các dân tộc bản địa Tây Nguyên như Êđê, M’nông: “điệu kể khan bắt đầu từ lời chào/ đi dọc bài khan là nụ cười nước mắt/ buồn vui giống mưa rừng/ giận hờn như cơn lốc/ có cuộc đời nào đi hết điệu khan đâu” (Trước ô cửa nhà dài). Nhà thơ cảm nhận và biểu hiện điệu múa truyền thống cả đồng bào Tây Nguyên hết sức sinh động: “vũ điệu H’Ghiê!/ vũ điệu múa trong đêm/ đêm rừng thẳm/ đêm buồn hoang mắt thú/ lời ca cổ/ mênh mang sườn núi cũ/ những cánh tay đen đúa/ giơ lên/ vô vọng/ gọi các Giàng” (vũ điệu H’Ghiê).
Câu chuyện cổ già làng kể về một thiên tình sử hấp dẫn: Chuyện chàng trai chấp nhận nhiều thử thách để được gắn bó với cô gái mà chàng say mê, chàng đã đi theo tiếng gọi của tình yêu, đi theo sự mách bảo của trái tim yêu nồng cháy và gặp người yêu bên bờ suối vắng: “đêm thách cưới thành đêm trăng mật/ lời phỉ nguyền xiết chặt cánh tay ôm/ rồi cặp thành đôi, dòng họ thành buôn/ đồ sính lễ vẫn không hề có nổi” (Tình sử). Nhà thơ phát hiện ý nghĩa nhân văn sâu sắc, độc đáo của câu chuyện cổ: Đối với người dân tộc Tây Nguyên, chuyện thách cưới không phải lúc nào cũng đòi hỏi vật chất mà thực sự là một thử thách sức mạnh tinh thần của con người, và tình yêu sẽ cho con người sức mạnh để vượt qua thử thách, giành lấy hạnh phúc của mình.
Nhà thơ vẽ lên hình ảnh người phụ nữ dệt thổ cẩm với bàn tay khéo léo, đức tính nhẫn nại và bao nỗi niềm thầm lặng trong cuộc đời, song người thợ dệt cũng thổi hồn văn hóa dân tộc và những nét rất đặc trưng của Tây Nguyên vào từng đường nét: “em thường dệt vải chái nhà sàn/ vời vợi bài ca chàng Đam San len lỏi cài sợi dọc/ có con “chim phí bay về cội nguồn” dệt một nét ngang/ tức tưởi gió mưa/ tượng nhà mồ nhấp nhô xuyên mây núi/ tiếng tù và nức nở đỏ hoe hốc mắt già làng” (Thổ cẩm). Đọc bài thơ “Đêm rượu cần ở Đ’lay Ya”, người đọc như được tham gia vào đêm lễ hội, giữa ngọn lửa bập bùng, vít rượu cần cùng trai gái Êđê, Mnông: “Bên này trái tim, bên ấy trái tim/ vồng ngực nổi cồn trên miệng ché/ rượu chảy về hai bên men say còn ở giữa/ lửa phừng phừng bứt tuột áo nuk khiar”. Bài thơ “Người mẹ cao nguyên” có một tứ thơ khá độc đáo, đó là những suy tưởng sâu sắc về người mẹ, người phụ nữ Tây Nguyên qua hình ảnh chiếc cầu thang trước cửa nhà sàn. Chiếc cầu thang với hình ảnh hai bầu sữa căng tròn đầy sức sống thể hiện đậm nét quan niệm tín ngưỡng phồn thực của đồng bào Tây Nguyên, là di chỉ của một thời xa xưa khi người phụ nữ có vai trò lớn lao, có quyền năng quyết định mọi việc trong gia đình, gia tộc và cộng đồng, đồng thời cũng gánh vác trách nhiệm nặng nề nhất.
Trong tập thơ, người đọc được cảm nhận nhiều chất liệu văn hóa dân gian Tây Nguyên, nhất là các nhạc cụ truyền thống. Nhưng văn hóa Tây Nguyên là một bộ phận của văn hóa dân tộc Việt Nam và trống đồng là kết tinh cao nhất, đẹp đẽ nhất của nền văn hóa ấy. Nhà thơ Văn Thảnh có những suy tư sâu lắng về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam qua hình ảnh và âm thanh của trống đồng: “Tôi ngắm đất nước tôi từ mặt trống đồng/ nghe nhịp ngũ liên từ bốn nghìn năm vọng lại/ tiếng đuổi giặc tiếng báo cơn lụt lội/ bốn ngàn năm liên hồi gay gắt nhịp ngũ liên” (Vỗ nhịp trống đồng). Anh cảm nhận rất tinh tế về đời sống ngàn đời của người Việt qua hình dáng của trống đồng: “nghèo khó lâu rồi cơ cực hóa thành quen/ nên dáng trống cũng mang hình gùi thóc/ xay giã thì thùng mấy nghìn năm nặng nhọc/ nghe lần đầu mà quen một tiếng quê” (Vỗ nhịp trống đồng).
Tập thơ thấm đẫm tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về truyền thống văn hóa của đồng bào Tây Nguyên, văn hóa Việt Nam. Văn Thảnh có một giọng thơ trữ tình sâu lắng, âm điệu trầm buồn đầy chất suy tư, trăn trở. Thơ anh giàu nhịp điệu, lắng đọng và tha thiết, có sự kết hợp thơ tự do với âm điệu của các loại hình nghệ thuật dân gian Tây Nguyên. Đặc biệt, nhà thơ đã khai thác rất thành công chất liệu văn hóa dân gian Tây Nguyên từ nhạc cụ, các điệu dân ca, điệu kể khan, đến những sinh hoạt văn hóa để tạo ra một bầu không khí dân gian đậm đặc và giàu giá trị thẩm mỹ trong tác phẩm. Đó là những nét độc đáo của tập thơ “Mưa gió Ayray” - một đóng góp đáng trân trọng của nhà thơ Văn Thảnh đối với thơ ca Tây Nguyên.
Nguyễn Phương Hà

