Chuyện về những phiến gỗ Tây Nguyên trong Lăng Bác

Ở Quảng trường Đại đoàn kết Pleiku (phường Pleiku, tỉnh Gia Lai) có một cây trắc đặc biệt: Đây nguyên là chồi cây trắc mẹ đã được gửi ra xây dựng năm 1974. Chủ nhân cây trắc này là ông Đinh Lực ở làng Đăk A Sê, xã Sơn Lang (Gia Lai), người đã từng tham gia khai thác gỗ xây Lăng Bác…

Những năm trước Sơn Lang rộ lên nạn săn lùng gỗ trắc. Từ nương rẫy cũ cho đến rừng sâu núi thẳm, hễ ở đâu có gỗ trắc là “lâm tặc” tìm tới “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Để giữ được cây, Đinh Lực phải làm chòi để canh. Ông giữ gìn cây trắc bằng tự thân của lòng yêu kính Bác Hồ, mong để lại cho con cháu mai sau một kỷ vật thiêng liêng. Và bởi thế, phải sau nhiều thuyết phục, ông mới chịu để Bảo tàng Gia Lai bứng cây trắc về Quảng trường Đại đoàn kết…

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng những người tham gia khai thác gỗ xây dựng Lăng Bác mỗi khi nhắc tới vẫn nhớ như in; xem đó là việc làm phi thường, thiêng liêng nhất của đời mình...

Quân - dân chung một nỗi niềm...

Tôi tìm về làng Đăk A Sê (xã Sơn Lang, tỉnh Gia Lai) một ngày giữa tháng 10. Đinh Lực, người đội viên du kích trong đoàn quân kéo gỗ gửi ra xây dựng Lăng Bác năm nào, giờ đã là ông lão gần 80 mùa rẫy.

Đưa tay vò trán như để lục lại trí nhớ, ông cất giọng xúc động: “Năm 1969, nghe tin Bác Hồ mất, đồng bào không ai không khóc. Mới hôm nào Bác nói mai mốt thống nhất Bác sẽ vào thăm đồng bào Tây Nguyên, vậy mà không còn dịp uống chung can rượu mừng chiến thắng với Bác nữa rồi! Rồi vào một ngày cuối năm 1973, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai khi ấy là Trần Văn Bình về họp với bà con. Ông nói: “Cấp trên chọn giao cho chúng ta nhiệm vụ khai thác gỗ trắc để gửi ra xây dựng Lăng Bác. Ai yêu nước, yêu Bác Hồ thì xung phong?”. Ai mà chẳng yêu nước, yêu Bác Hồ. Nhưng “Lăng” là gì? Ông Bình giải thích: “Lăng là cái nhà quàn thi hài Bác để mai mốt thống nhất bà con mình ra Hà Nội được nhìn thấy Bác”. Ồ, thế thì trúng cái bụng của mọi người rồi. Ai cũng xung phong. Những người không được chọn cứ ấm ức, thắc mắc mãi không thôi…”.

Anh hùng Núp chặt nhát búa phát lệnh chiến dịch.

Không chỉ du kích và bà con xã Sơn Lang, còn một lực lượng lớn gồm các cơ quan dân chính Đảng và bộ đội song không phải cứ ai xung phong là được. Những người được chọn phải có sức khỏe, không ngại khó khăn gian khổ và nhất là phải có tư tưởng vững vàng… Nói tóm lại thì đấy là những người toàn diện, tiêu biểu của mỗi cơ quan. Vậy mà tổng quân số trên công trường đã hơn 500 người; riêng du kích và đồng bào địa phương đã gần 400 người. Công việc được tổ chức rất chặt chẽ: Trưởng ban chỉ huy công trường là một đồng chí Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy. Dưới ban chỉ huy công trường, người ta lập ra các tiểu ban y tế, đời sống, rèn mộc, bảo vệ… Đội văn công của tỉnh cũng được huy động ra công trường phục vụ. Nhân lực được chia thành nhóm, mỗi nhóm khoảng 20 người với những công việc được phân công cụ thể: Nhóm chuyên chặt hạ cây, nhóm kéo gỗ, nhóm lo công việc hậu cần… Trước đó, già làng và những người thông thuộc rừng đã được cử đi khảo sát, chọn được những cây đạt tiêu chuẩn rồi thì đánh dấu, vạch trước hướng đi để kéo gỗ ra...

Sáng 25/3/1974, lễ ra quân được tổ chức trọng thể. Anh hùng Núp là người chặt nhát búa phát lệnh chiến dịch. Nhát búa phát lệnh của ông như một lời hiệu triệu, thôi thúc mọi người dồn hết tâm trí cho công việc thiêng liêng có một không hai của đời mình…

Đạp bằng gian khổ...

“Bấy giờ, dù Hiệp định Paris đã được ký kết nhưng tình hình hậu cần trong căn cứ vẫn rất khó khăn” - ông Đinh Lực hồi nhớ.

Lương thực, thực phẩm hầu hết phải tự túc. Người có gạo góp gạo, người không có gạo góp củ mì; thức ăn thì kiếm được gì ăn nấy… Gỗ trắc già rêu bám trơn nhẫy, phải búa to, rìu nặng mới hạ được. Có những cây gỗ già, rìu chặt vào tóe lửa như vấp phải đá... Chặt, đẽo gỗ đã khó, vậy mà chẳng thấm vào đâu so với việc kéo gỗ về nơi tập kết. Rừng Kbang núi cao tiếp núi, suối sâu nối tiếp suối sâu mà tất cả đều dùng sức người! Chọn dây rừng thật chắc bện thành chảo buộc vào một đầu gỗ phía trước. Người khỏe thì kéo, người yếu hơn thì đút con lăn, dùng đòn xeo lái gỗ đi cho thẳng hướng… “Hò dô ta…nào!”. Hò kéo pháo thuở đánh Tây lại được mang ra hát. Bắp tay căng cứng, đỏ rựng như bắp chuối, ướt nhẫy mồ hôi; chân miết lõm đất mới nhích được cây gỗ lên từng tấc một. Thung lũng bên kia Trạm Lập mới khó hơn nhiều. Một con suối sâu rồi một con dốc thăm thẳm liền kề. Phải làm cầu mới đưa gỗ qua được. Cả đoàn người môi mím chặt, chân người sau bấm vào chân người đi trước; thân căng như cánh nỏ lên dây đưa gỗ vượt dốc… Mỗi ngày khi bóng tối còn lẩn khuất, đoàn người đã thức dậy nướng củ mì ăn lót dạ, chỉ chờ rõ mặt người là bắt tay vào kéo gỗ. Đến trưa chỉ dừng lại ăn cơm, xong là tiếp tục ngay. Cả ngày đánh vật với từng súc gỗ, mệt và đói muốn lả người, vậy mà cứ đặt lưng xuống là lại không ngủ được. Ai cũng thấy đêm sao mà dài, ước gì có phép làm cho nó ngắn lại để kịp chuyển gỗ ra Bắc…

Bộ đội và du kích kéo gỗ gửi ra xây Lăng Bác.

Gần một tháng trời, từ ngày 25/3 đến 20/4/1974, chỉ bằng đôi tay trần và ý chí của lòng thương nhớ Bác, các nhóm công trường khai thác đã kéo được 56 cây gỗ trắc, vượt qua hàng chục cây số dốc cao, suối sâu về khu vực tập kết an toàn. Họ đã làm đúng như tâm niệm: “Gỗ rừng Tây Nguyên dành cho Bác Hồ cũng như lòng dân Tây Nguyên đối với Bác, không có thiếu, chỉ có thừa”: Tất cả các nhóm đều thực hiện vượt số lượng và vượt thời gian quy định 5 ngày… Nhìn những súc gỗ vuông vắn, nguyên lành được bộ đội nâng niu xếp lên xe để tiếp tục cuộc hành trình, ai nấy đều ứa nước mắt nhìn theo…

“Thời bây giờ liệu đã ai dám đi bộ hết quãng đường chừng 20 km? Vậy mà chúng tôi đã chân trần, kéo những súc gỗ nặng nề vượt qua suối sâu, dốc cao về đích trên quãng đường còn dài gấp đôi thế. Vì đâu mà mọi người làm nổi công việc phi thường đó? Đơn giản là vì lòng ai cũng thương Bác quá chừng thôi…” - ông Đinh Lực kết thúc câu chuyện, đôi mắt trầm ngâm nhìn ra ngoài hiên nắng...

Ngọc Tấn

Ý kiến của bạn