Biến tiềm năng to lớn của biển thành động lực tăng trưởng mới không chỉ đòi hỏi hạ tầng đồng bộ mà cần một cuộc “cách mạng” thực sự trong tư duy sản xuất của cư dân miền biển. Chuyển đổi sinh kế cho ngư dân từ khai thác tự nhiên sang nuôi trồng và dịch vụ sinh thái đang được xem là “chìa khóa” để giải bài toán phát triển bền vững.
Chuyển đổi sinh kế - yêu cầu cấp thiết
Khai thác thủy sản vốn là nghề truyền thống, là sinh kế chính của cộng đồng dân cư ven biển Đắk Lắk. Tuy nhiên, cường độ khai thác và số lượng tàu cá lớn đang gây khó khăn trong công tác quản lý đội tàu, tạo áp lực lên việc tái tạo nguồn lợi thủy sản trong tự nhiên.
Ngư dân Kiều Thái Hoàng (phường Tuy Hòa) đã có gần 20 năm đi bạn cho các tàu khai thác cá ngừ đại dương. Theo ông Hoàng, trước đây nghề biển từng là sinh kế mà khó có nghề nào sánh được. “Hồi đó, chỉ cần vươn khơi khoảng một tháng, anh em bạn thuyền mỗi người cũng được chia hơn chục triệu đồng, chưa kể tiền câu mực ban đêm. Mỗi chuyến đi có thể thu về gần 20 triệu đồng, đủ trang trải cuộc sống và nuôi gia đình. Thế nhưng, những năm gần đây, tình hình khai thác ngày càng khó khăn. Nguồn lợi suy giảm khiến nhiều chuyến biển kéo dài cả tháng trời nhưng chẳng được bao nhiêu. Đi biển bây giờ vừa nguy hiểm, vừa bấp bênh”.
![]() |
| Hoạt động khai thác ven bờ quá mức đang gây nguy cơ giảm nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Ảnh: M.Thuận |
Lao động khai thác thủy sản thu nhập bấp bênh, công việc nặng nhọc, điều kiện làm việc khắc nghiệt. Tổng số lượng lao động trên các tàu cá khai thác vùng biển ven bờ và tàu cá hoạt động vùng khơi nghề lưới kéo và lưới rê có khoảng 2.914 người, trình độ văn hóa còn hạn chế, hoạt động khai thác theo kiểu truyền thống dẫn đến năng suất lao động chưa cao. Đáng quan tâm là lực lượng lao động trong lĩnh vực khai thác thủy sản đang có xu hướng già hóa. Ông Võ Đốc, một chủ tàu ở phường Tuy Hòa cho hay: "Bây giờ bám biển chủ yếu là những người lớn tuổi, quen nghề rồi nên không lên bờ làm việc khác. Hiện tìm nhân công trẻ cũng rất khó, có tàu phải ra khơi trong tình trạng thiếu lao động".
|
"Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh xây dựng dự thảo quy định chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, giải bản đối với tàu cá không có nhu cầu hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, dự kiến trình tại kỳ họp HĐND tỉnh gần nhất" - Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thiên Văn. |
Thực trạng nghề biển hiện đặt ra yêu cầu cấp thiết chuyển đổi các nghề khai thác, ngăn chặn các hoạt động khai thác trái phép nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, hiệu quả, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo điều kiện cân bằng nguồn lợi, góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh.
Đòn bẩy từ chính sách hỗ trợ
Để hiện thực hóa mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển, UBND tỉnh đã phê duyệt Dự án “Chuyển đổi nghề trong khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”, với tổng kinh phí dự kiến hơn 727,5 tỷ đồng. Đây được xem là cú hích chính sách mạnh mẽ nhất từ trước đến nay với các gói hỗ trợ cụ thể, sát sườn với đời sống ngư dân.
Theo đó, dự án đề xuất chuyển đổi từ các nghề khai thác có nguy cơ cao sang các ngành nghề thân thiện với môi trường, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; chuyển đổi nghề được gắn với đào tạo nghề, bảo đảm người dân có việc làm ổn định, thu nhập bền vững sau chuyển đổi. Dự án đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực, trong đó tập trung vào đào tạo nghề, hỗ trợ đầu tư ban đầu, an sinh xã hội và tín dụng ưu đãi...
![]() |
| Ngư dân nuôi trồng thủy sản trên địa bàn xã Xuân Cảnh. Ảnh: M.Thuận |
Đặc biệt, dự án còn triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp căn cơ nhằm tạo sinh kế bền vững. Trong đó, về đào tạo nghề, tỉnh xác định không đào tạo đại trà mà thực hiện rà soát nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp và thị trường lao động; chỉ tổ chức đào tạo khi đã xác định được địa chỉ tuyển dụng và khả năng tạo thu nhập sau đào tạo. Đối với nhóm chuyển sang nuôi trồng thủy sản, các giải pháp hỗ trợ đi vào thực chất như: hướng dẫn ngư dân thủ tục thuê mặt nước, bãi triều hợp pháp; hỗ trợ trực tiếp về con giống, thức ăn và chuyển giao kỹ thuật nuôi mới. Đặc biệt, dự án chú trọng giải pháp về vốn và tổ chức sản xuất thông qua việc lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia và khuyến khích ngư dân liên kết thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã để đủ điều kiện pháp lý tiếp cận các khoản vay ưu đãi quy mô lớn, hướng tới xây dựng chuỗi giá trị liên kết "4 nhà" bền vững.
Những giải pháp này chính là "chìa khóa" tháo gỡ điểm nghẽn cho các xã ven biển. Đơn cử như xã Tuy An Đông, với đa số người dân sống bằng nghề nông nghiệp gắn với nuôi trồng và khai thác thủy hải sản, tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng của xã năm 2025 đạt trên 1.891 tấn, trong đó riêng nuôi trồng đạt khoảng 1.400 - 1.500 tấn với các đối tượng chủ lực như tôm hùm, cá bớp, cá mú. Xác định tái cơ cấu theo hướng giảm khai thác, tăng nuôi trồng để bảo vệ nguồn lợi, xã Tuy An Đông khuyến khích đưa nuôi trồng thủy sản ra xa bờ, ứng dụng công nghệ hiện đại như lồng HDPE, cảm biến giám sát môi trường để giảm thiểu ô nhiễm và thích ứng biến đổi khí hậu. Đồng thời, việc xây dựng các mô hình liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp, kết hợp nuôi trồng với du lịch sinh thái đang được xem là hướng đi đột phá để gia tăng giá trị. Sự “tiếp sức” kịp thời từ chính sách hỗ trợ của tỉnh sẽ là động lực để những định hướng này sớm thành hiện thực, giúp ngư dân yên tâm bám biển làm giàu.
Thuận Nguyễn - Thủy Tiên


