Biến động giá nhiên liệu không chỉ làm tăng chi phí đầu vào mà còn tạo ra áp lực tái cấu trúc toàn diện đối với doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp tại Đắk Lắk không chỉ “chống đỡ” mà đã chủ động thay đổi cách vận hành, tìm kiếm dư địa tiết giảm chi phí và từng bước chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng bền vững hơn.
“Cú sốc” chi phí và bài toán sống còn
Nếu như trước đây, biến động giá xăng, dầu chỉ được xem là yếu tố rủi ro trong kinh doanh, thì nay đã trở thành biến số chi phối trực tiếp đến hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp. Không dừng ở mức tăng chi phí đơn lẻ, giá nhiên liệu tăng đã kéo theo hàng loạt chi phí khác leo thang, tạo thành “cú sốc” tổng thể đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điều đáng nói, những mắt xích chịu tác động mạnh nhất lại chính là những khâu khó thay thế trong ngắn hạn.
Dễ nhận thấy nhất là chi phí vận tải, đây là khâu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành. Khi giá xăng, dầu tăng, các đơn vị vận chuyển đồng loạt điều chỉnh giá cước. Với doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là những đơn vị có sản lượng lớn, tần suất giao hàng dày, mức tăng này nhanh chóng trở thành gánh nặng.
![]() |
| Công ty Cổ phần An Hưng chuyển đổi nhiên liệu từ than đá sang củi trấu cho hệ thống lò hơi, giúp giảm chi phí. |
Tại Công ty Cổ phần An Hưng (phường Tuy Hòa), bình quân mỗi năm công ty này xuất xưởng khoảng 500.000 sản phẩm, đồng nghĩa với việc duy trì tần suất vận chuyển dày đặc nguyên phụ liệu và thành phẩm. Theo bà Bùi Thị Kim Soan, Trưởng Phòng Tổ chức nhân sự Công ty Cổ phần An Hưng, chỉ riêng chi phí vận chuyển đã tăng gần 1/3 so với trước. “Trước đây một chuyến khoảng 15 triệu đồng, nay tăng thêm vài triệu đồng. Với tần suất vận chuyển lớn, tổng chi phí phát sinh là rất đáng kể”, bà Soan cho biết.
Áp lực không chỉ nằm ở con số tăng thêm, mà còn ở tính bị động. Trong ngành may mặc, doanh nghiệp gần như không có nhiều dư địa để điều chỉnh giá bán do phụ thuộc vào hợp đồng xuất khẩu đã ký kết. Việc tăng chi phí nhưng không thể tăng giá khiến biên lợi nhuận bị bào mòn. Không chỉ vậy, đặc thù đơn hàng theo tiến độ khiến doanh nghiệp khó linh hoạt trong vận chuyển. Việc “dồn đơn, ghép chuyến” - một giải pháp tiết kiệm chi phí thì lại phụ thuộc vào lịch giao hàng của đối tác.
“Có những đơn hàng buộc phải giao nhiều đợt, hoặc phải vận chuyển gấp bằng đường hàng không, chi phí rất cao nhưng không thể khác”, bà Soan chia sẻ thêm.
Nếu như ở lĩnh vực sản xuất, doanh nghiệp còn có thể “co kéo” một phần chi phí nội bộ, thì ở khâu thu mua, xuất khẩu nông sản, nơi phụ thuộc gần như hoàn toàn vào vận tải thì dư địa thích ứng lại càng hạn hẹp.
Ông Đinh Văn Hùng, Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu Hùng Trường (xã Pơng Drang) cho biết doanh nghiệp chuyên thu mua và xuất khẩu sầu riêng, xoài, mít ra thị trường phía Bắc và xuất khẩu qua cửa khẩu. Trước đây, chi phí vận chuyển một chuyến hàng dao động khoảng 80 triệu đồng, nhưng nay đã tăng lên 100 - 120 triệu đồng.
![]() |
| Toàn bộ mái các khu nhà xưởng, kho lạnh của Công ty TNHH Hải sản Hạnh Đăng đều lắp đặt tấm pin năng lượng mặt trời, sản xuất điện năng phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. |
“Không chỉ giá tăng, mà cái khó là nhiều xe không nhận chở. Họ sợ giá dầu tiếp tục tăng trong lúc di chuyển, đi đường dài 2 - 3 ngày thì khả năng lỗ rất cao. Điều này khiến doanh nghiệp rơi vào thế bị động. Với đặc thù hàng nông sản tươi, thời gian vận chuyển là yếu tố sống còn. Nếu không kịp đưa hàng ra cửa khẩu đúng thời điểm, rủi ro hư hỏng, giảm chất lượng là rất lớn. Trong khi đó, việc đặt trước phương tiện vận chuyển cũng không còn chắc chắn như trước. Có khi hôm nay chốt giá nhưng ngày mai họ không chạy nữa. Nếu có nhận thì phải chấp nhận mức giá cao hơn rất nhiều”, ông Hùng nói.
Không dừng lại ở vận tải, chi phí đầu vào cho khâu đóng gói cũng tăng đồng loạt. Từ thùng giấy, rổ nhựa đến các vật tư phụ trợ đều tăng giá theo thị trường nguyên liệu. Theo ước tính của doanh nghiệp, riêng chi phí vật tư đã tăng khoảng 10%, còn nếu tính cả vận chuyển thì tổng chi phí tăng lên tới 15 - 20%. Điểm khó ở chỗ, đây đều là những chi phí cứng, khó cắt giảm. Những khâu như vận chuyển hay đóng gói gần như không thể tiết kiệm. Doanh nghiệp chỉ có thể giảm ở nhân công hoặc tối ưu vận hành, nhưng mức giảm không đáng kể.
Ở lĩnh vực chế biến thủy sản, áp lực cũng không kém phần nặng nề. Ông Lê Hải Đăng, Giám đốc Công ty TNHH Hải sản Hạnh Đăng (Khu công nghiệp Hòa Hiệp), doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cho biết, chi phí đầu vào tăng theo nhiều lớp, từ bao bì, nguyên liệu đến vận tải quốc tế. Theo tính toán của doanh nghiệp, tổng chi phí sản xuất có thể tăng khoảng 5%. Con số này thoạt nhìn không lớn, nhưng trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của thị trường xuất khẩu, đây lại là yếu tố có thể quyết định việc giữ hay mất đơn hàng.
Đáng chú ý, với đặc thù phải vận chuyển hàng hóa qua các cảng lớn ở TP. Hồ Chí Minh, doanh nghiệp gần như không có phương án thay thế. Chi phí tăng là điều bắt buộc phải chấp nhận, trong khi khả năng cắt giảm lại rất hạn chế.
Như vậy, điểm khó của doanh nghiệp hiện nay không chỉ nằm ở chi phí tăng, mà còn ở chỗ không có nhiều lựa chọn để điều chỉnh trong ngắn hạn. Khi dư địa tiết giảm truyền thống dần thu hẹp, bài toán đặt ra là buộc doanh nghiệp phải đi xa hơn, tái cấu trúc cách sản xuất và sử dụng năng lượng.
Tìm dư địa trong “bài toán khó”
Giữa áp lực chi phí gia tăng, thay vì co hẹp sản xuất, nhiều doanh nghiệp đã chủ động “mổ xẻ” lại toàn bộ quy trình vận hành để tìm dư địa tiết giảm. Điểm đáng chú ý là các giải pháp không còn mang tính tình thế, mà đang dần trở thành chiến lược dài hạn.
![]() |
| Nhà xưởng lắp đặt hệ thống đèn led chiếu sáng, giúp tiết kiệm năng lượng để kéo giảm chi phí. |
Tại Công ty Cổ phần An Hưng, việc chuyển đổi nhiên liệu từ than đá sang củi trấu cho hệ thống lò hơi là một ví dụ điển hình. Theo doanh nghiệp, giải pháp này giúp giảm từ 30 - 40% chi phí nhiên liệu so với trước đây. Không chỉ dừng lại ở thay đổi nhiên liệu, doanh nghiệp còn đầu tư hệ thống điện năng lượng mặt trời áp mái để chủ động nguồn điện cho sản xuất. Phần điện dư được bán lại, góp phần bù đắp chi phí. Đây là cách tái phân bổ chi phí năng lượng, biến một khoản chi thành nguồn thu bổ sung.
Cùng với đó, các biện pháp quản trị nội bộ cũng được siết chặt. Từ việc tắt thiết bị trước giờ nghỉ, giảm tải hệ thống lò hơi theo khung giờ đến nâng cao ý thức tiết kiệm trong toàn bộ công nhân…, những thay đổi nhỏ nhưng góp phần tích lũy hiệu quả lớn.
Ở góc độ khác, doanh nghiệp chế biến thủy sản lại lựa chọn hướng đi mang tính tái cấu trúc hơn. Theo ông Lê Hải Đăng, việc đầu tư hệ thống điện mặt trời công suất lớn giúp doanh nghiệp chủ động hơn một nửa nhu cầu điện tại nhà máy, đây là yếu tố đặc biệt quan trọng với ngành sử dụng điện liên tục như chế biến thủy sản.
Quan trọng hơn, doanh nghiệp đang chuyển dịch mạnh sang sản phẩm chế biến sâu. Nếu như trước đây chủ yếu xuất khẩu sản phẩm sơ chế, thì nay tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng ngày càng lớn, hướng tới hệ thống siêu thị tại Mỹ và Canada. Cách làm này không chỉ giúp nâng cao giá trị sản phẩm mà còn giảm áp lực vận chuyển theo một cách gián tiếp, bởi cùng một khối lượng hàng hóa nhưng giá trị cao hơn, từ đó giảm tỷ trọng chi phí logistics trong giá thành.
![]() |
| Nhiều doanh nghiệp đã và đang đầu tư hệ thống điện năng lượng mặt trời để kéo giảm chi phí sản xuất. |
Thực tế cũng cho thấy, quản lý năng lượng đang trở thành một “điểm tựa” quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Tại Đắk Lắk, nhiều doanh nghiệp đã chủ động phối hợp với ngành điện để điều chỉnh phụ tải, tận dụng điện mặt trời và hạn chế sử dụng điện trong giờ cao điểm.
Công ty Cổ phần Bá Hải (Khu công nghiệp Hòa Hiệp) là một trong những doanh nghiệp ứng dụng hiệu quả giải pháp điều chỉnh phụ tải, giúp giảm được 10% sản lượng điện tiêu thụ nhờ chuyển hệ thống cấp đông sang sử dụng điện mặt trời trong giờ cao điểm, đồng thời điều chỉnh nhiệt độ bảo quản hợp lý. Mức tiết kiệm lên tới khoảng 100 triệu đồng mỗi tháng - con số cho thấy dư địa tiết giảm từ quản trị năng lượng là rất đáng kể.
Có thể thấy, trong “cơn sóng” giá nhiên liệu, những doanh nghiệp trụ vững không phải là những đơn vị ít chịu tác động, mà là những đơn vị thích ứng nhanh hơn. Từ việc thay đổi nhiên liệu, đầu tư năng lượng tái tạo, đến tái cấu trúc sản phẩm và thị trường, các doanh nghiệp tại Đắk Lắk đang từng bước chuyển mình. Đây không chỉ là giải pháp vượt khó trước mắt, mà còn là nền tảng cho một mô hình tăng trưởng bền vững hơn, nơi hiệu quả kinh tế gắn liền với khả năng thích ứng và sử dụng tài nguyên một cách thông minh.
“Trong khi các doanh nghiệp nỗ lực tiết giảm chi phí, tái cấu trúc hoạt động, thì những yếu tố như giá xăng dầu, cước vận tải lại nằm ngoài khả năng kiểm soát. Do đó, rất cần các chính sách hỗ trợ kịp thời từ phía Nhà nước, nhất là trong lĩnh vực logistics, năng lượng và tiếp cận vốn, nhằm giúp doanh nghiệp ổn định sản xuất, duy trì việc làm và giữ vững thị trường”, ông Nguyễn Huỳnh Vĩnh Huy, Chủ tịch Hội doanh nhân trẻ tỉnh nói.
Tuyết Hương - Khang Anh - Ngô Xuân




