Multimedia Đọc Báo in

Mải miết lặng tìm “Hồn cao nguyên”

07:43, 04/01/2026

Nhà thơ Đăng An (Phạm Ngọc Đôn) sinh sống ở xã Krông Pắc, có niềm say mê và tình cảm yêu mến, gắn bó với núi rừng Tây Nguyên; vì vậy sáng tác của anh tập trung vào nguồn cảm hứng thiên nhiên ấy. Sau tập thơ “Tình rừng” (2019), anh cho ra mắt bạn đọc tập “Hồn cao nguyên” (Nxb Hội Nhà văn, 2025) gồm 85 bài thơ.

Cảm hứng chung khi đọc tập thơ là niềm khát khao tìm kiếm và biểu hiện thiên nhiên, con người, văn hóa của cao nguyên Đắk Lắk, Tây Nguyên nói chung. Nhà thơ đã đến những địa danh sông suối, núi rừng, nhiều lần đặt chân lên đỉnh Chư Yang Sin, Chư Yang Lắk hiểm trở.

Anh thấy mình như “vó ngựa hoang”, không phải “cưỡi ngựa xem hoa” mà đắm say giữa thiên nhiên hoang sơ, huyền bí: “Rừng xanh là chăn gối/ cỏ thơm là nệm êm/ giấc say mộng êm đềm/ gió đưa hương nhè nhẹ” (Ta như vó ngựa hoang); “Rong chơi ngủ lại núi rừng/ Sương sa gió lặng côn trùng í a/ Trăng xanh sà xuống cùng ta/ ngồi bên bếp lửa đậm đà tình thân” (Tình trăng đêm rừng).

Trong thơ Đăng An, thiên nhiên, cỏ cây, núi rừng, sông suối hiện lên như những sinh thể có hồn, hòa vào sinh hoạt văn hóa của con người: “Tiếng mẹ ru vọng mãi thác reo ngân/ điệp khúc cồng chiêng hoan ca tấu nhạc/ đêm nhà dài bập bùng nhịp xoang bếp lửa/ các thần linh hội tụ về đây/ từ đỉnh trời Yang Lắk/ Yang Sin” (Hồn cao nguyên). Hồn cao nguyên hiện lên với những hình ảnh sinh hoạt văn hóa, những địa danh cụ thể: “Không có nước giàng cho nước/ hồ Jơn Tú không bao giờ cạn/ suối Ea Yông chảy mãi giữa buôn làng” (Hồn cao nguyên). Đó là những hình ảnh “nghệ nhân tạc hình tượng gỗ/ nét hồn nhiên tự thuở hồng hoang/ nghe âm vang nắng gió đại ngàn/ lanh canh thác reo mời gọi đá” (Hồn cao nguyên).

Với niềm say mê đặc biệt về đá cuội cảnh, nhà thơ đi khắp sông suối, núi cao, bờ biển để tìm những viên đá cuội độc đáo. Anh tìm thấy trong đá cuội hình ảnh những cuộc đời, những phận người, những hình hài sự sống, rung động tâm hồn, sắc thái tâm linh: “Bóng người ẩn hiện trong mây/ Thoảng nghe đá cuội đâu đây tự tình” (Tình cao nguyên); hoặc: “Người đến với ta hay ta tìm được người/ duyên phận hình hài suiseki nuột nà kiêu hãnh/ linh thiêng thông điệp niềm tin/ trái đất sinh sôi xứ sở phồn sinh/ chứa chất những thân phận con người” (Xanh mãi xứ phồn sinh).

Yêu thiên nhiên, khao khát tìm vẻ đẹp của văn hóa Tây Nguyên, người đọc bắt gặp tác giả nhiều khi buông thả hồn thơ đắm say, phiêu bồng giữa bao la: “đêm cồng chiêng bập bùng lửa trại/ vòng xoang tròn hay bầu trăng em/ anh chưa tìm về được nửa vầng trăng/ gặp lại em vòng xoang đêm rằm/ men rượu cần trên đồi trăng treo” (Tiếng chiêng tìm nửa vầng trăng). Chất đắm say phiêu bồng ấy đã tạo ra những hình ảnh bay bổng với nhiều liên tưởng hư thực: “nắng cao nguyên/ đóng gói cơn dông lốc chiều bất chợt/ em xách theo anh lưng lửng giữa trời/ hai thân phận mặc dòng đời bỡn cợt/ run rẩy rong rêu/ mơn man gió bụi/ chung tình” (Gió bụi lầu thơ).

Điểm nổi bật trong tập thơ là cảm hứng phồn sinh xuyên thấm. Đó là cảm hứng về sự sống hữu hình lẫn vô hình, sự sống cụ thể, phong phú và bất diệt, là sức sống tự nhiên, sống đầy đủ, thỏa thuê. Nhìn vào thiên nhiên cảnh vật, con người, ở đâu nhà thơ cũng thấy sự sinh sôi nảy nở, vạn vật đầy sức trẻ, sức xuân: “Trẻ con mủm mỉm tung tăng nhảy múa/ nam nữ phổng phao yêu nhau ngọt ngào/ đàn ông đàn bà quấn quýt tính giao/ sứ mệnh tồn tại đất trời hoàn mỹ/ ngất say men rượu ái tình” (Xanh mãi xứ phồn sinh). Những biểu tượng cặp đôi xuất hiện với tần suất khá dày đặc trong tập thơ: “Anh” - “em”, “gió” - “mây”, “tiếng chiêng” - “ánh trăng”, “cồng chiêng” - “ay ray”, “ché tuk” - “ché tang”, “rượu cần” - “nhảy múa”… Sự vật cũng như con người cứ hòa quyện, quấn quýt, giao hòa, gợi nên ấn tượng nồng nã phồn thực: “Anh hôn em cho mùa xuân nảy lộc/ Anh hôn em cho mùa hạ lá xanh/ Anh hôn nữa lá vàng thu thổn thức/ Mà vẫn hôn mặc giá lạnh đông về" (Nụ hôn). Cảm hứng phồn sinh cũng là biểu hiện niềm yêu mến, niềm tin mãnh liệt vào sự sống bất diệt.

Thơ Đăng An giàu cảm xúc chân thật, nồng nàn và sôi nổi. Phần lớn anh viết thơ tự do, lẫn đôi bài lục bát. Kết cấu đơn giản, chủ yếu xây dựng hình tượng thơ theo mạch cảm xúc. Ngôn hình thơ giàu hình ảnh sinh động, kết hợp những hình ảnh giác quan và hình ảnh gợi ra từ tâm tưởng. Nhịp điệu thơ phong phú, nhiều vần, có những bài thơ mang âm điệu kể khan hay bài cúng của đồng bào dân tộc thiểu số địa phương. Ngôn ngữ thơ bình dị, đôi chỗ còn nôm na, dễ dãi, chưa được chắt lọc, tinh luyện. Song, nhìn chung “Hồn cao nguyên” là một tác phẩm khá thành công, một bước phát triển đáng ghi nhận của thơ Đăng An, cũng là đóng góp có ý nghĩa đối với thơ ca Đắk Lắk hiện nay.

Nguyễn Phương Hà


Ý kiến bạn đọc