Mỗi dịp Tết Bunpimay vào tháng Tư, cộng đồng người Việt gốc Lào ở Buôn Đôn không chỉ náo nức tổ chức lễ hội té nước mà còn lắng đọng trong một nghi thức thiêng liêng: Xày-bạt (cúng dường chư tăng).
Đây là một nét đẹp tâm linh được cộng đồng buôn Trí (xã Buôn Đôn) dày công gìn giữ qua bao thế hệ.
Trên con đường nhỏ hướng vào buôn Trí, hoa đoọc-khun buông thõng từng chùm vàng rực dưới nắng hè long lanh, những đóa chăm-pa khoe sắc trắng tinh khôi tỏa hương dịu dàng thay lời đón chào năm mới.
Giữa cảnh sắc tươi đẹp, thanh khiết đó, cộng đồng người Việt gốc Lào lại chuẩn bị cho nghi lễ thiêng liêng: Xày-bạt (Cúng dường chư tăng).
Nghi lễ này bắt nguồn từ thời đức Phật khi ngài và các đệ tử sống đời khất thực, người dân đã tự nguyện dâng thức ăn để chư tăng chuyên tâm tu tập và truyền bá giáo pháp. Đây là cách để họ gieo hạt giống thiện lành, tạo phước báu cho đời sau.
![]() |
| Người dân thành kính cúng dường chư tăng. |
Hình ảnh các vị sư thuộc phái Nam Tông đắp y vàng, đi qua làng, tiến vào đảo Ây Nô giữa hai hàng người dân thành kính quỳ gối, dâng lên những mâm lễ vật được chuẩn bị từ tấm lòng, thật sự là một khoảnh khắc lắng đọng. Nếu nghi thức dâng đồ cúng dường của phật tử được gọi là "Xày-bạt" thì nghi thức ôm bình bát để nhận đồ cúng dường của chư tăng được gọi là "Tắc-bạt". Đó không chỉ là hành động mà là sự tiếp nhận đối với tấm lòng từ bi.
Trong đám đông ấy, có tiếng lòng băn khoăn của bà Mé Đăm: "Mỗi năm chỉ có một lần được dịp dâng lễ cúng dường tam bảo nên tôi luôn sợ mình thất lễ. Bởi vậy, tôi đã tìm hiểu từ những người có kiến thức về phong tục truyền thống của người Lào để chuẩn bị cho chu đáo". Nỗi lo ấy của bà cũng như sự ngập ngừng của chị Sáo Mon khi nói: "Em không có gì quý giá, chỉ có mía vườn nhà, liệu dâng lên quý thầy có nhận tấm lòng của em không?" đã được lắng nghe. Tôi mang những băn khoăn ấy để bạch với Đại đức Thích Hải Định (Trụ trì chùa Hoa Lâm) và thầy đã hoan hỉ nói rằng: "Lòng thành kính mới chính là phước báu lớn nhất. Phước báu ấy không nằm ở giá trị vật chất mà ở sự an lạc, thanh tịnh trong tâm hồn khi người ta biết cho đi". Lời của vị sư đã xua tan mọi sự lo âu và củng cố niềm tin vào những điều thánh thiện của những người dân tộc Lào vốn thật thà, chất phác.
Sau khi nhận thọ thực, các vị sư sẽ tụng những lời kinh chúc phúc. Giữa không gian yên bình, dưới ánh nắng long lanh, người dân chắp tay cung kính lắng nghe. Họ tin rằng những lời kinh đó sẽ gột rửa đi những muộn phiền của năm cũ, mang lại may mắn và an lành cho gia quyến trong năm mới. Đây chính là giá trị và ý nghĩa sâu sắc của lễ cúng dường: không chỉ là hành động tôn kính mà còn là sự gửi gắm niềm tin vào một tương lai tốt đẹp.
![]() |
| Người dân chuẩn bị lễ vật cúng dường. |
Với những người như bà Mé Lỏm, ông Bun Mi, ông Bun Lươm, lễ cúng dường chư tăng không chỉ là một nghi thức tôn giáo mà còn là truyền thống quý báu của dân tộc Lào. "Gia đình chúng tôi, từ già đến trẻ, năm nào cũng tham gia", họ nói.
Những người trẻ trong buôn như chị Sa Mit, em Bun Nhay, Bun Kệt, Nô Ly, dù mang trong mình dòng máu hòa quyện của cả người Lào và các dân tộc bản địa như Êđê, M’nông vẫn say sưa tiếp nối truyền thống của ông bà. Họ cùng nhau chuẩn bị những lễ vật giản dị mà chứa chan tình cảm: xôi nếp, lạp, gỏi đu đủ, lá mì xào, canh rau rừng, vốn là những món ăn dân dã đặc trưng của người Lào nơi đây.
Theo truyền thống Nam tông, các vị sư sẽ không lựa chọn thức ăn mà tùy hỷ thọ thực sự cúng dường của thí chủ. Ngay cả những món ăn mặn cũng sẽ được thọ thực nếu đảm bảo đúng tôn chỉ "tam tịnh nhục": không nghe, không thấy và không nghi động vật bị giết vì mình. Điều này càng làm nổi bật sự bao dung và lòng từ bi của Phật pháp, cũng như sự thành kính của người dân buôn Trí.
Cúng dường chư tăng không chỉ là một nghi lễ mà còn là một câu chuyện về lòng thành kính, về tình yêu với cội nguồn và sự kiên cường giữ gìn bản sắc văn hóa của đồng bào Lào ở Buôn Đôn giữa bao đổi thay của cuộc sống.
Khăm Kẹo Tha Na Sủn Thon


