Theo Nghị định số 61/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/4/2026, người dân có thể cung cấp hình ảnh, video ghi lại hành vi vi phạm hành chính thông qua nhiều kênh, trong đó có ứng dụng định danh quốc gia VNeID.
Về quy trình, người dân chỉ cần mở ứng dụng VNeID, chọn mục “Kiến nghị, phản ánh về an ninh trật tự”, tạo yêu cầu mới, nhập thông tin, đính kèm hình ảnh hoặc video liên quan, sau đó xác nhận cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình báo rồi gửi đi. Thông tin cá nhân của người cung cấp sẽ được bảo mật. Đồng thời, người gửi cũng có quyền yêu cầu được thông báo kết quả xử lý vụ việc.
![]() |
| Đoàn viên thanh niên hướng dẫn người dân sử dụng các ứng dụng trên điện thoại. Ảnh: Vân Anh |
Đáng chú ý, cùng với các lực lượng công an, biên phòng, quản lý thị trường…, UBND cấp xã cũng được trao thẩm quyền tiếp nhận và thu thập dữ liệu phản ánh vi phạm. Đây là điểm mới mang tính đột phá, mở rộng vai trò giám sát xã hội đến tận cơ sở.
Có thể khẳng định, đây là cơ hội nếu làm đúng bởi tiềm năng của cơ chế này không nhỏ. Với sự phổ biến ngày càng rộng của điện thoại thông minh, đặc biệt trong giới trẻ, người dân hoàn toàn có thể tham gia giám sát các lĩnh vực như: an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, phòng chống ma túy, phòng chống tác hại của rượu, bia, khai thác thủy sản, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và nuôi trồng thủy sản, tần số vô tuyến điện... một cách hiệu quả hơn. Khi được trao công cụ và quyền tham gia, người dân không chỉ là đối tượng quản lý mà còn trở thành chủ thể góp phần gìn giữ kỷ cương xã hội.
Tuy nhiên, từ chính sách đến thực tiễn vẫn còn khoảng cách không nhỏ.
Ở nhiều vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, không ít người dân vẫn sử dụng điện thoại chủ yếu để nghe gọi, nhắn tin. Việc cài đặt hay sử dụng ứng dụng để gửi phản ánh là điều không đơn giản. Có người chưa cài đặt VNeID, có người gặp khó khăn trong việc đăng nhập vì quên mật khẩu, không nhớ thông tin cá nhân, lúng túng trong sử dụng…
Bên cạnh đó là những rào cản mang tính hạ tầng và điều kiện thực tế. Nhiều khu vực nông thôn, nhiều thôn buôn ở vùng sâu vẫn còn “điểm mù” sóng di động. Việc gửi một video dung lượng lớn trong điều kiện này là thách thức không nhỏ. Ngoài ra, giao diện ứng dụng và hướng dẫn pháp lý hiện chỉ bằng tiếng Việt cũng là rào cản khó vượt đối với một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số.
Không chỉ dừng ở yếu tố kỹ thuật, tâm lý xã hội cũng là rào cản đáng kể. Ở các thôn buôn, nơi quan hệ cộng đồng gắn bó chặt chẽ, nhiều người e ngại việc phản ánh vi phạm sẽ ảnh hưởng đến tình làng nghĩa xóm.
Để quy định mới thật sự phát huy hiệu quả, đặc biệt tại tỉnh Đắk Lắk với đông đồng bào dân tộc thiểu số, thực tế cần nhiều hơn là một ứng dụng công nghệ.
Trước hết, các tổ công nghệ số cộng đồng, đoàn thanh niên, cán bộ cơ sở cần phát huy vai trò trong việc cầm tay chỉ việc, hướng dẫn trực tiếp người dân. Song song đó, nội dung tuyên truyền cần được chuyển tải bằng ngôn ngữ của đồng bào, với những trường hợp chưa thạo tiếng Việt và phù hợp với đặc thù văn hóa từng địa phương.
Quan trọng hơn, cần thực hiện cơ chế phản hồi rõ ràng, minh bạch và có thời hạn cụ thể. Khi người dân gửi phản ánh và nhận hồi âm, niềm tin vào hệ thống sẽ dần được củng cố, tiến tới bền vững. Ngược lại, nếu thông tin gửi đi không được xử lý hoặc phản hồi kịp thời, sự nhiệt tình ban đầu rất dễ lắng xuống.
Chuyển đổi số pháp lý sẽ thật sự thành công khi không ai bị bỏ lại phía sau. Và điều đó đòi hỏi chính sách không chỉ dừng lại ở nền tảng công nghệ, mà còn chạm vào đời sống, đến được với hầu hết người dân.
Minh Khuê

