Nâng cao vị thế nông sản Đắk Lắk

Để nông sản vươn xa trong chuỗi cung ứng toàn cầu, tỉnh Đắk Lắk đẩy mạnh chuyển dịch từ tư duy sản xuất sang kinh tế nông nghiệp, chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng, đáp ứng khắt khe các chuẩn mực quốc tế và phát triển các mô hình xanh, bền vững.

Chuyển từ lượng sang chất

Đắk Lắk hiện có quy mô sản xuất nông nghiệp hàng đầu cả nước với hơn 214.000 ha cà phê (sản lượng xấp xỉ 580.000 - 617.000 tấn/năm); 41.000 ha sầu riêng (sản lượng niên vụ 2026 ước đạt gần 500.000 tấn) cùng diện tích các loại cây ăn quả phát triển nhanh chóng.

Năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh đạt 2.800 triệu USD (tăng 26% so với năm 2024), trong đó có hai mặt hàng nông sản đóng góp trên 1 tỷ USD là sầu riêng và cà phê. Tính đến nay, tỉnh đã có 420 mã vùng trồng (tổng diện tích 21.821 ha) và 72 mã đóng gói xuất khẩu được phê duyệt. Tuy nhiên, áp lực về hạ tầng kiểm nghiệm tại chỗ, các cảnh báo về cadimi, vàng O hay yêu cầu tuân thủ quy định chống mất rừng EUDR từ Liên minh châu Âu đang buộc ngành nông nghiệp địa phương phải thay đổi toàn diện.

Cà phê Đắk Lắk là mặt hàng nông sản quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Chính vì vậy, các ngành hàng chủ lực đang chuyển từ quản lý theo "mã số và hồ sơ" sang quản trị theo "lô hàng và bằng chứng". Chất lượng được kiểm soát từ đất, nước, vật tư và vườn; kiểm nghiệm gắn với đúng lô; thu mua và đóng gói phải giữ được nguồn... Định hướng về bước chuyển này, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Hữu Huy nhấn mạnh: "Phát triển ngành hàng nông sản không thể chỉ chạy theo diện tích và sản lượng. Chúng ta phải chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp; từ bán sản phẩm thô sang bán sản phẩm có thương hiệu, có dữ liệu, có câu chuyện và có giá trị gia tăng cao; từ tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, xanh, minh bạch và bền vững".

Trong chuỗi giá trị đó, việc xây dựng "ngôn ngữ chất lượng" thống nhất cho các nông sản chủ lực là yêu cầu cấp thiết để chinh phục thị trường khắt khe. Ông Thái Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Simexco Daklak chia sẻ: "Hiện nay, tăng trưởng ngành nông sản không thể dựa vào sản lượng mà phải dựa vào giá trị, với ba trụ cột là tiêu chuẩn, minh bạch và niềm tin. Chúng ta cần nâng tầm nông sản từ nguồn cung hàng hóa thô lớn thành nguồn cung có giá trị cao thông qua chế biến sâu, số hóa dữ liệu và xây dựng uy tín thương hiệu toàn cầu".

 

Để nông sản vươn xa, không chỉ đến nhiều quốc gia hơn mà trước hết phải vươn xa bằng chất lượng, bằng sự minh bạch, bằng uy tín và trách nhiệm. Mỗi sản phẩm mang thương hiệu Đắk Lắk khi đến tay người tiêu dùng phải là một lời cam kết về chất lượng, an toàn và sự tử tế của người sản xuất”.

 
Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Hữu Huy

Còn theo bà Nguyễn Thị Thái Thanh, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần BanMe Green Farm, Đắk Lắk đã khẳng định được vị thế vùng nông sản trọng điểm của cả nước, với nhiều mặt hàng quan trọng nằm trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, muốn tổ chức một ngành hàng phát triển bền vững, vươn tầm thế giới thì điều không thể thiếu là liên kết chuỗi và tạo lập hệ sinh thái.

Sản xuất gắn với phát triển kinh tế xanh

Bên cạnh tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chí "xanh" và phát thải thấp đang trở thành tấm vé bắt buộc để nông sản Đắk Lắk thâm nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Với hơn 776.000 ha rừng (tỷ lệ che phủ trên 41%) cùng cơ sở dữ liệu thích ứng EUDR đang được triển khai trên 86.339 ha cà phê, Đắk Lắk nắm giữ tiềm năng lớn để phát triển nông nghiệp tái sinh, kinh tế tuần hoàn và thương mại hóa tín chỉ carbon.

Để giải quyết vấn đề ô nhiễm kim loại nặng như cadimi từ nguồn đất, nước hay thói quen lạm dụng phân bón hóa học, TS. Trần Ngọc Thanh, Viện trưởng Viện Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Nguyên (Trường Đại học Đông Á) nhấn mạnh: Bảo vệ thương hiệu nông sản xuất khẩu đòi hỏi giải pháp đồng bộ từ điều tra nền đất đến thay đổi phương thức canh tác. Việc đưa các giải pháp tuần hoàn như ứng dụng phân bón hữu cơ vi sinh, chế phẩm giấm gỗ và than sinh học (biochar) tái chế từ phế phụ phẩm vỏ sầu riêng, vỏ cà phê là hướng đi bắt buộc để vừa nâng cao độ mùn cho đất, vừa đáp ứng các tiêu chuẩn xanh quốc tế.

Tại địa bàn sản xuất, mô hình kinh tế xanh đã bắt đầu phát huy hiệu quả thực tế. Ông Nguyễn Văn Thanh Bình, Giám đốc HTX Nông nghiệp công nghệ cao Xanh Cao Nguyên (xã Cư M'gar) cho biết, với chuỗi liên kết chanh leo, sầu riêng, cau (200 hộ tham gia), bên cạnh việc vận hành hệ thống tưới tự động, nhật ký điện tử và năng lượng mặt trời, HTX đã phối hợp xử lý phế phụ phẩm vỏ sầu riêng thành phân bón biochar và giấm gỗ... Giải pháp tuần hoàn này không chỉ giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại vùng trồng mà còn giúp nâng cao hàm lượng hữu cơ cho đất, giảm chi phí đầu vào và đảm bảo tiêu chuẩn an toàn cho sản phẩm xuất khẩu.

Hạt mắc ca Đắk Lắk rất được thị trường Nhật Bản ưa chuộng.

Theo ông Đặng Bá Đàn, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia khu vực Tây Nguyên - Nam Trung Bộ, nâng cao giá trị gia tăng thông qua ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và phát triển nông nghiệp tuần hoàn là yêu cầu tất yếu đối với địa phương có quy mô nông nghiệp hàng đầu cả nước như Đắk Lắk. Hiện nay, nền tảng chính sách cho chuyển đổi số trong nông nghiệp đã tương đối đầy đủ, vấn đề quan trọng là đưa các kết quả nghiên cứu và mô hình ứng dụng đến với người dân một cách nhanh hơn, dễ hiểu và dễ làm.

Cùng với đó, việc tỉnh triển khai tích hợp 100% mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói lên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia (vận hành từ ngày 1/7/2026) đang hoàn thiện hạ tầng dữ liệu số minh bạch.

Khẳng định bước đi chiến lược của ngành, bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk nhấn mạnh: Phát triển kinh tế xanh không còn là lựa chọn mà là yêu cầu cấp thiết để Đắk Lắk tăng trưởng bền vững. Ngành nông nghiệp và môi trường đang tập trung tham mưu 5 nhóm giải pháp trọng tâm, trong đó ưu tiên rà soát cơ chế chính sách, số hóa vùng trồng, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, tăng cường liên kết HTX - doanh nghiệp và thương mại hóa tín chỉ carbon nhằm tạo động lực bứt phá cho kinh tế địa phương.

 

Ý kiến của bạn