Được mệnh danh là “xứ sở của voi”, Đắk Lắk không chỉ là vùng đất nổi tiếng với nghề săn bắt, thuần dưỡng voi rừng mà còn lưu giữ một không gian văn hóa đặc sắc, nơi voi gắn liền với đời sống người M’nông.
Từ huyền thoại săn voi đến những câu chuyện nghĩa tình giữa người và voi, tất cả đã làm nên một “xứ sở voi” rất riêng. Tuy nhiên, trước thực trạng đàn voi ngày càng suy giảm, hành trình bảo tồn voi hôm nay không chỉ là câu chuyện bảo tồn một loài vật quý hiếm mà còn là nỗ lực gìn giữ ký ức, bản sắc và hồn cốt của “xứ sở voi”.
Kỳ 1: Niềm tự hào của người M’nông
Từ những cánh rừng khộp ven sông Sêrêpốk, từ xa xưa người M’nông đã biết cách săn bắt và thuần dưỡng voi rừng.
Nơi khởi nguồn nghề săn voi
Trước đây, người M’nông cư trú trên nhiều vùng địa hình khác nhau với các nhóm như M’nông Gar, M’nông Nong, M’nông Kuêng, M’nông Preh, M’nông Prâng, M’nông Rlăm, M’nông Bu Đăng, M’nông Chil... Theo thông tin trong cuốn sách “Nghi lễ cổ truyền của đồng bào M’nông” (Sở Văn hóa - Thông tin Đắk Lắk, xuất bản năm 2004) ghi lại: “Không phải nhóm M’nông nào, ở địa bàn nào cũng biết săn voi rừng mà chỉ có số ít người ở nhóm M’nông Preh, M’nông Gar, M’nông Bih và M’nông Biắt”.
Lần theo các tài liệu nghiên cứu về voi và văn hóa Tây Nguyên của nhà nghiên cứu văn hóa các dân tộc vùng Trường Sơn - Tây Nguyên Trần Tấn Vịnh, nghề săn và thuần dưỡng voi của người M’nông xuất hiện từ hàng trăm năm trước, khi những cánh rừng khộp dọc lưu vực sông Sêrêpốk còn là nơi sinh sống của những đàn voi hoang dã lớn. Từ nhu cầu sinh tồn, người M’nông dần tích lũy những kinh nghiệm quý giá về tập tính của voi, cách nhận biết dấu chân, hướng di chuyển, nguồn nước và mùa sinh sản để hình thành nên kỹ năng săn bắt, thuần dưỡng và truyền nối qua nhiều thế hệ.
Voi sau khi săn bắt và thuần dưỡng sẽ được bán cho những gia đình, dòng họ giàu có, nhóm người M’nông khác và người Êđê, J'rai ở các địa phương mang về nuôi để đi săn, vận chuyển hàng hóa hoặc kéo vật nặng…
![]() |
| Voi tham gia diễu hành trong lễ hội Bupimay năm 2026 tại xã Buôn Đôn. |
Ở vùng đất Buôn Đôn, nơi những cánh rừng khộp trải dài bên dòng Sêrêpốk, người M’nông Preh sớm hình thành nghề săn bắt và thuần dưỡng voi như một phần tất yếu của cuộc sống. Qua nhiều thế hệ, truyền thống ấy gắn liền với tên tuổi những “dũng sĩ săn voi”, đưa Buôn Đôn trở thành vùng đất được mệnh danh là “xứ sở của voi”, góp phần tạo nên dấu ấn riêng của cao nguyên Đắk Lắk, nơi voi không chỉ là vật nuôi mà còn là một phần hồn cốt của đại ngàn.
Nghề độc đáo
Dù những chuyến săn voi nay chỉ còn trong ký ức nhưng câu chuyện về nghề săn voi vẫn được các thế hệ người già Buôn Đôn kể lại.
Già Y Thơng Kđoh, già làng Buôn Trí (xã Buôn Đôn) vẫn nhớ rõ câu chuyện săn voi của cha ông và các gru (thợ săn voi) trong buôn làng. Ông kể: “Ngày xưa, muốn đi săn voi rừng phải chuẩn bị rất kỹ, chứ không phải cứ thích là đi. Người trong buôn lập thành một đoàn săn, mang theo 4 - 5 con voi nhà. Đó đều là những con voi chiến khỏe mạnh, dạn dày kinh nghiệm và tuyệt đối nghe lời chủ. Trên mỗi con voi có hai người nài, đều là những gru nổi tiếng gan dạ, từng nhiều lần vào rừng bắt voi”.
Mỗi chuyến đi săn thường có khoảng 20 gru cùng phối hợp, người chỉ huy phải là người dày dạn kinh nghiệm, có uy tín và được cả đoàn tuyệt đối tin tưởng. Ngoài ra, một đội đi săn thường có khoảng 10 con voi chiến là voi đực khỏe trên 35 tuổi; phương tiện đi săn có 17 dụng cụ gồm: gậy điều khiển, búa, khóa chân và rất nhiều loại dây để buộc, dẫn, tròng, treo, bảo hiểm… Dụng cụ quan trọng nhất chính là những sợi dây da trâu - được bện từ da của nhiều con trâu đực khỏe, sau đó treo trên giàn bếp nhiều năm để ngấm khói. Dây vừa dẻo, vừa bền, đủ sức chịu lực kéo rất lớn của voi rừng.
![]() |
| Già làng Y Thơng Kđoh (bìa phải) chia sẻ những câu chuyện về săn bắt, thuần dưỡng voi. |
Khi phát hiện đàn voi, đoàn săn không vội tiếp cận. Các gru thường chọn voi còn trẻ hoặc voi trưởng thành vừa sức để thuận lợi cho việc thuần dưỡng. Những con voi nhà được điều khiển lặng lẽ áp sát từ nhiều hướng. Do ít cảnh giác với đồng loại hơn con người, voi rừng dần bị cô lập. Đúng thời điểm, voi nhà đồng loạt dồn ép, dùng thân và ngà chặn mọi lối thoát. Khi khoảng cách đã rất gần, người nài voi phía sau nhanh chóng quăng sợi dây da trâu, khéo léo siết trúng chân sau của voi rừng. Đầu dây còn lại được buộc vào thồ gỗ trên lưng voi nhà hoặc quấn chặt vào gốc cây lớn. Bị giữ chân, voi rừng gầm vang, vùng vẫy dữ dội. Nhưng càng giằng co, sợi dây càng siết chặt, trong khi voi nhà tiếp tục áp sát khiến con vật dần kiệt sức và chịu khuất phục.
Bắt được voi mới chỉ là bước khởi đầu. Khó khăn nhất chính là thuần dưỡng. Sau mỗi chuyến săn thành công, voi không được đưa ngay về buôn mà được dẫn đến khu rừng gần làng, nơi có bãi cỏ, bóng mát và nguồn nước để bắt đầu quá trình thuần dưỡng. Người thuần dưỡng vừa nghiêm khắc vừa kiên nhẫn, từng bước tạo sự tin tưởng để voi quen với con người.
Ông Y Soh Hra (buôn Ea Mar, xã Buôn Đôn), chủ và cũng là nài của voi Bun Nang - con voi do cha ông săn được cách đây hơn 40 năm vẫn nhớ như in: “Bài tập đầu tiên của voi rất đơn giản, chỉ là nhấc chân, quỳ, cúi đầu theo khẩu lệnh rồi tập xỏ còng. Khi đã quen với chủ, voi được tập đi lại, quay trái, quay phải, xuống nước, sau cùng mới tập chở người và hàng hóa. Khi voi đã thuần thục các động tác thì được đưa ra bãi chăn thả trong rừng. Cứ khoảng 5 - 7 ngày, voi lại được đưa về nơi thuần dưỡng để “ôn” các bài tập. Một con voi thường mất từ hai đến ba tháng mới thuần dưỡng xong. Khi biết nghe lời và thuộc lòng các khẩu lệnh, voi mới chính thức được làm lễ nhập buôn”.
Những chuyến đi kéo dài hàng tháng trời, nghệ thuật thuần dưỡng đầy bản lĩnh đã dệt nên những câu chuyện huyền thoại vẫn còn được người M'nông kể lại đến hôm nay.
(còn nữa)
Kỳ 2: Tình người - Tình voi
Hoàng Hồng


