Nghiên cứu khoa học: Từ đề án đến giá trị thực tiễn

Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ (KH-CN) trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk thời gian qua không chỉ dừng lại ở các đề tài, dự án mà đang từng bước đi vào thực tiễn sản xuất và đời sống.

Khoa học, công nghệ “bén rễ” trong sản xuất nông nghiệp

Là một trong những đơn vị chủ lực trong lĩnh vực nghiên cứu nông nghiệp, thời gian qua, đội ngũ cán bộ của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) đã triển khai nhiều đề tài trên các lĩnh vực nông - lâm nghiệp, chăn nuôi, công nghệ sinh học… Nhiều kết quả nghiên cứu đã nhanh chóng được ứng dụng vào sản xuất như chọn tạo giống cà phê vối năng suất cao, công nghệ nuôi cấy mô thực vật, quy trình canh tác bền vững... Những thành tựu này không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, tăng thu nhập cho người dân mà còn góp phần bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.

ThS. Đinh Thị Tiếu Oanh hướng dẫn người dân cách chăm sóc giống cà phê do cán bộ WASI nghiên cứu sản xuất.

ThS. Đinh Thị Tiếu Oanh, Trưởng bộ môn Cây công nghiệp (WASI), đã chủ trì và tham gia nhiều đề tài khoa học cấp bộ, cấp quốc gia về chọn tạo giống cà phê năng suất, chất lượng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhiều công trình do bà thực hiện đã được ứng dụng rộng rãi, mang lại hiệu quả thiết thực cho nông dân.

Tiêu biểu là giống cà phê TRS1 được gieo ươm trực tiếp bằng hạt, giúp người dân chủ động nguồn giống với chi phí thấp so với phương thức trồng cây con truyền thống. Khi sử dụng giống, nông dân còn được hỗ trợ kỹ thuật gieo ươm, chăm sóc nên dễ dàng áp dụng vào sản xuất. Nhờ đó, giống TRS1 nhanh chóng được bà con đón nhận.

Không chỉ cho năng suất cao, đạt từ 4,5 - 6 tấn nhân/ha (có hộ đạt tới 8 tấn/ha tùy mức độ thâm canh), TRS1 còn có khả năng thích ứng tốt với biến đổi khí hậu, chịu hạn khá, dễ trồng, dễ chăm sóc. Đặc biệt, giống này phù hợp với điều kiện sản xuất của nông dân vùng sâu, vùng xa, nơi còn hạn chế về kỹ thuật canh tác bền vững. Hiện giống TRS1 chiếm khoảng 50 - 70% diện tích cà phê tại nhiều địa phương.

Giai đoạn 2016 - 2025, Viện WASI đã thực hiện 7 nhiệm vụ KH-CN cấp quốc gia, 23 nhiệm vụ cấp bộ, 31 nhiệm vụ cấp địa phương và hơn 38 nhiệm vụ phối hợp, trong đó cây cà phê là lĩnh vực chủ lực.

Nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn

Song song với các viện nghiên cứu, Trường Đại học Tây Nguyên cũng là đơn vị quan trọng trong hoạt động KH-CN và chuyển giao công nghệ. Giai đoạn 2021 - 2025, đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường đã triển khai 519 đề tài, dự án và nhiệm vụ khoa học các cấp; trong đó có 1 nhiệm vụ cấp quốc gia, 4 đề tài Nafosted, 12 đề tài cấp tỉnh và tương đương, 21 đề tài cấp bộ, 313 đề tài cơ sở của giảng viên và 159 đề tài sinh viên. Nhà trường cũng đã hình thành 1 nhóm nghiên cứu mạnh cùng 13 nhóm nghiên cứu chuyên sâu.

Không chỉ nâng cao số lượng và chất lượng công trình, Trường Đại học Tây Nguyên còn đẩy mạnh chuyển giao KH-CN gắn với nhu cầu thực tiễn địa phương.

Có thể kể đến đề tài "Nghiên cứu sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có tổ hợp thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh góp phần phát triển chăn nuôi bò thịt" của cán bộ nhà trường đã mang lại hiệu quả thiết thực bằng việc ứng dụng khẩu phần ăn TMR và FTMR, tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp địa phương để phát triển chăn nuôi bò thịt bền vững; giúp giảm chi phí mua thức ăn chăn nuôi công nghiệp; cải thiện tỷ lệ tiêu hóa và khả năng sinh trưởng của đàn bò thịt, góp phần nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi…

Cán bộ Trường Đại học Tây Nguyên nghiên cứu khoa học.

PGS.TS Nguyễn Văn Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tây Nguyên cho biết, với vai trò là trung tâm đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ của khu vực, nhà trường tập trung xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, hướng đến phát triển sản phẩm khoa học có giá trị ứng dụng cao. Đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu nhằm giải quyết các bài toán thực tiễn như phát triển nông nghiệp công nghệ cao, thích ứng biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.

Có thể thấy, hoạt động KH-CN trên địa bàn tỉnh đang chuyển mạnh từ “nghiên cứu để có kết quả” sang “nghiên cứu để ứng dụng”. Các đề tài, dự án sau khi hoàn thành không còn dừng lại ở báo cáo mà đã đi vào sản xuất, đời sống, tạo ra giá trị kinh tế - xã hội rõ nét. Đây là minh chứng cho định hướng phát triển KH-CN và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của địa phương trong giai đoạn mới.

Thúy Hồng

 

Ý kiến của bạn