Đừng để cận thị “lớn” cùng trẻ

Học tập ngày càng gắn với máy tính, điện thoại và các thiết bị số đang tạo thêm áp lực lên đôi mắt của học sinh, sinh viên; trong đó tật cận thị đang ngày càng trở nên phổ biến.

Mới học lớp 4 nhưng em Trần Nguyễn Bảo Châu, học sinh Trường Tiểu học - THCS Nguyễn Trường Tộ (phường Ea Kao) đã có 3 năm "làm bạn" với cặp kính cận. Ngay từ khi con học lớp 1, nhận thấy mắt con có biểu hiện bất thường, cha mẹ Châu đưa em đi khám và phát hiện tật khúc xạ. Từ đó, việc kiểm tra mắt, đo thị lực và thay kính đã trở thành việc quen thuộc của gia đình. Hiện, Bảo Châu cận 2 độ, loạn thị 3 độ.

Là sinh viên ngành Y (Trường Đại học Tây Nguyên), Nguyễn Hoàng Hải cũng đang phải sống chung với cận thị. Khối lượng học tập lớn khiến Hải thường xuyên đọc giáo trình, tra cứu tài liệu, sử dụng máy tính, điện thoại trong thời gian dài. Hải nhìn nhận, việc tiếp xúc nhiều với thiết bị điện tử, có lúc ngồi học chưa đúng tư thế, khoảng cách từ mắt đến sách vở hoặc màn hình chưa hợp lý và ít dành thời gian cho mắt nghỉ ngơi là những thói quen cần phải thay đổi.

Sự gia tăng chiều dài trục nhãn cầu là một trong những yếu tố quan trọng liên quan đến tiến triển cận thị ở trẻ.

Thống kê của Hội Nhãn khoa Việt Nam cho thấy, cả nước hiện có khoảng 5 triệu trẻ em mắc tật khúc xạ, chiếm khoảng 30 - 40% trẻ trong độ tuổi đến trường, trong đó cận thị chiếm phần lớn. Việc thường xuyên học tập, làm việc với các thiết bị điện tử góp phần khiến cho tỷ lệ người mắc tật khúc xạ ngày càng tăng.

 
Bác sĩ Hà Thị Việt khuyến cáo nguyên tắc 20 - 20 - 20, nghĩa là sau 20 phút làm việc ở cự ly gần, nên cho mắt nghỉ 20 giây và nhìn xa khoảng 20 feet (khoảng 6 m). Trẻ cần ngồi đúng tư thế, giữ khoảng cách đọc khoảng 30 - 40 cm, bảo đảm đủ ánh sáng, tránh nhìn màn hình quá gần và liên tục; đồng thời nên dành khoảng 1 - 2 giờ mỗi ngày cho hoạt động ngoài trời.

Tuy nhiên, theo bác sĩ CKI Hà Thị Việt, phụ trách Khoa Mắt (Bệnh viện Đại học Tây Nguyên), nguyên nhân gây cận thị không đơn giản là do sử dụng điện thoại hay máy tính. Cận thị là kết quả tương tác giữa yếu tố di truyền và môi trường. Đáng lưu ý là tình trạng nhìn gần kéo dài, khoảng cách nhìn quá gần, mắt ít được nghỉ ngơi trong khi thời gian hoạt động ngoài trời giảm.

Trung bình mỗi ngày Khoa Mắt (Bệnh viện Đại học Tây Nguyên) tiếp nhận khoảng 40 - 50 lượt người đến khám, trong đó có nhiều trẻ em mắc tật khúc xạ. Cùng với sự phổ biến của cận thị là tâm lý xem nhẹ ở một bộ phận phụ huynh. Nhiều người quan niệm đơn giản rằng trẻ nhìn không rõ thì đo mắt, đeo kính, tăng độ thì thay kính. Thậm chí, có người cho rằng khi trưởng thành, công nghệ phẫu thuật khúc xạ hiện đại có thể giải quyết cận thị.

Bác sĩ Việt cho hay, đeo kính đúng độ giúp trẻ nhìn rõ nhưng không đồng nghĩa cận thị đã được kiểm soát. Kính thông thường điều chỉnh tật khúc xạ, trong khi kiểm soát cận thị hướng đến làm chậm quá trình tiến triển, đặc biệt là sự dài ra của trục nhãn cầu. Vì vậy, trẻ đã bị cận cần được khám định kỳ, theo dõi sự thay đổi độ cận và khi có điều kiện theo dõi cả chiều dài trục nhãn cầu.

Kiểm tra thị lực định kỳ giúp phát hiện sớm cận thị và các tật khúc xạ ở học sinh tiểu học. 

Hiện nay, bên cạnh kính điều chỉnh tật khúc xạ thông thường còn có các phương pháp kiểm soát cận thị như kính kiểm soát cận, kính áp tròng chuyên dụng, Atropine liều thấp đối với những trường hợp phù hợp. Việc lựa chọn phương pháp phải được bác sĩ đánh giá dựa vào tuổi, độ cận, tốc độ tăng độ, chiều dài trục nhãn cầu, tình trạng mắt và các yếu tố nguy cơ.

Thiết bị số đã trở thành một phần của giáo dục hiện đại, hỗ trợ học sinh, sinh viên tra cứu tài liệu, học trực tuyến, làm bài tập và tiếp cận nguồn tri thức. Vì vậy, giải pháp không phải là tách trẻ hoàn toàn khỏi công nghệ mà là hình thành cách sử dụng thiết bị hợp lý và xây dựng môi trường học tập thân thiện hơn với đôi mắt.

Bằng Giang

Ý kiến của bạn