Làm báo ở chiến trường Khu 5 - Tây Nguyên

Trong những năm kháng chiến, phóng viên chiến trường cũng là người chiến sĩ đích thực ở tuyến đầu. Với nhà báo Sĩ Huynh, nguyên phóng viên Thông tấn xã Giải phóng Trung Trung Bộ, những năm tháng tác nghiệp ở chiến trường Khu 5 - Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ là những ký ức không thể nào quên…

Nhà báo - chiến sĩ

Sau sự kiện “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972, để kịp thời phản ánh tình hình chiến sự, theo sự chỉ đạo của Ban Bí thư, 149 sinh viên mới tốt nghiệp đại học được tuyển chọn để tăng cường cho lực lượng báo chí ở các chiến trường. Lúc ấy, Sĩ Huynh vừa tốt nghiệp lớp Sinh học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và lọt vào lớp dự tuyển. Lực lượng phóng viên trúng tuyển ấy được gọi bằng mật danh “GP10”.

Nhà báo Sĩ Huynh kể: “Được xem như một “binh chủng đặc biệt”, hành trang lên đường của chúng tôi được tổ chức chăm lo khá chu đáo. Tại F905 (mật danh của căn cứ huấn luyện ở Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình khi ấy), chúng tôi vừa học chính trị, nghiệp vụ, vừa huấn luyện quân sự, tập leo núi, hành quân đường dài… Sau 8 tháng học tập, rèn luyện miệt mài, đoàn lên xe vào Quảng Bình rồi theo đường 12A hành quân sang Lào. Tới đây, tôi được phân công về Thông tấn xã Giải phóng Trung Trung Bộ. Chị Võ Mai Nhung xuống Quảng Ngãi đón tôi lên Ban Tuyên huấn Khu ủy Khu 5. Căn cứ Khu ủy bấy giờ đóng ở Trà My (Quảng Nam) giữa những cánh rừng già bạt ngàn. Ban Tuyên huấn gồm nhiều bộ phận; riêng bộ phận Thông tấn xã có khoảng 80 người do ông Vũ Đảo phụ trách. Thấy tôi sức khỏe không được tốt, năm đầu các anh cho đảm nhận việc chụp ảnh, đưa tin về những sự việc diễn ra trong căn cứ; sang năm thứ hai mới chính thức đi cơ sở”.

Nhà báo Sĩ Huynh cùng các đồng nghiệp trên đường hành quân vào chiến trường Khu 5.

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, chiến trường Khu 5 nhìn chung đã bớt ác liệt nhưng những vùng “da báo” (ta và địch đan xen) vẫn rất căng thẳng. Mỗi chuyến đi cơ sở cũng đồng nghĩa là một chuyến ra tuyến trước: Súng đạn, tăng võng, lương thực, máy móc… luôn sẵn sàng để có thể chiến đấu với địch bất cứ lúc nào. Trên đường đi, mọi sự ăn uống, sinh hoạt đều phải “tự biên tự diễn”. Đến cơ sở, việc khai thác thông tin chủ yếu dựa vào du kích. Với các vùng tranh chấp, tìm kiếm thông tin, gặp gỡ nhân vật rất khó khăn, nguy hiểm. Ngày nằm hầm bí mật, chờ tối mới nhờ người dẫn đi. Có được tin, bài đã khó, chuyển tin bài đi cũng lắm vất vả. Thường thì phải về huyện hoặc nhờ các đơn vị tuyến trước chuyển về căn cứ bằng máy vô tuyến. Từ căn cứ sau khi biên tập, bộ phận kỹ thuật sẽ chuyển ra Hà Nội. Riêng ảnh, phải mang về căn cứ rồi gửi nguyên phim âm bản ra Hà Nội theo đường giao liên. Tác phẩm nếu được sử dụng, chỉ được ghi là “TTX Việt Nam”.

Những kỷ niệm không quên

“Làm báo ở chiến trường thì có biết bao điều đáng nhớ” - nhà báo Sĩ Huynh cười khi được đề nghị kể về những chuyến tác nghiệp đáng nhớ - “Bao nhiêu ngôi làng bị cày ủi đến không còn ngọn cỏ tôi đã từng qua; bao con người dũng cảm bám trụ quê hương chiến đấu “một tấc không đi, một ly không rời” tôi đã gặp, khó mà nhớ hết. Chỉ xin kể ra đây vài mẩu chuyện gắn bó với nghề nghiệp mà tôi không thể nào quên:

 Cuối năm 1973, tôi có chuyến đi về huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi). Đây là vùng “da báo” đan xen ta và địch. Hôm đó nghe tin ở xã Phổ Châu đang chuẩn bị nổi dậy phá ấp chiến lược Châu Me, tôi liền tìm gặp ông Hồng Vân, Bí thư Huyện ủy nắm tình hình. Ông Hồng Vân bảo: Tối nay tôi vào ấp vận động dân, anh đi với tôi... Đêm không trăng không sao, màn đêm đặc quánh tưởng có thể xắn thành từng miếng. Ông Hồng Vân bò trước, tôi theo sau. Đến hàng rào cuối cùng bỗng dưng tôi lên cơn sốt. Khắp người vã mồ hôi, chân tay run lập cập. Ông Vân tưởng tôi sợ, hỏi:  “Anh sợ lắm à ?”. Vừa bực mình vừa xấu hổ, tôi phân bua với ông rằng mình bất chợt nổi cơn sốt rét. Ông Bí thư bèn đưa tôi vào lánh ở một gia đình cơ sở. Lúc lâu sau ông quay ra tìm tôi bảo “Mọi việc xong rồi, ngày mai bà con sẽ nổi dậy phá ấp”. Đúng như lời ông, hôm sau nhân dân đồng loạt nổi dậy, khí thế sôi sục khiến địch không dám phản ứng. Đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một cuộc nổi dậy phá ấp chiến lược ngay giữa ban ngày. Những hình ảnh sống động đó tôi đã kịp ghi lại và chuyển ra Hà Nội cho TTX Việt Nam…

Lại một lần khác, có thể nói đây là lần tôi cận kề với cái chết nhất: Hôm đó, tôi về xã Tịnh Thiện (Sơn Tịnh, Quảng Ngãi). Tịnh Thiện bấy giờ, bên này sông Diêm Điền là của ta, bên kia sông là địch. Đồn chúng đóng sát ngay bên bờ sông. Tôi muốn có bức ảnh chụp quang cảnh đồn địch nên nhờ một cậu du kích dẫn đi. Đợi lúc chiều chỉ còn le lói nắng, hai anh em lò dò ra bờ sông. Tìm được nơi ẩn nấp và góc chụp thích hợp, vừa nâng máy lên, thốt nhiên tôi bị cánh tay rắn như thép của cậu du kích ấn sấp xuống đất. Chưa kịp hiểu chuyện gì thì đã nghe hàng loạt đạn găm chiu chíu quanh mình. Thì ra bọn địch trong đồn đã nhìn thấy chúng tôi. Đợi chúng dứt loạt đạn, hai anh em lăn mấy vòng rồi chạy. Vừa rời khỏi, hàng loạt súng địch đã châu vào chỗ chúng tôi nấp bắn như vãi đạn. Nếu không có sự phản xạ nhanh nhạy gần như là “giác quan thứ 6” của cậu du kích, hôm đó chắc hẳn là tôi đã “bỏ mạng sa trường”!".

Đời nhà báo chiến trường ai cũng là chiến sĩ. Tuy nhiên không phải ai cũng may mắn được chứng kiến những sự kiện mang tính bước ngoặt của lịch sử. Với nhà báo Sĩ Huynh, bước ngoặt ấy là mùa Xuân toàn thắng 1975 ở Tây Nguyên… Ông nhớ lại: “Năm 1975, sau cái Tết được tổ chức khá chu đáo, chúng tôi bước vào đợt học tập chính trị. Kế hoạch ta sẽ đánh lớn không được tiết lộ nhưng vấn đề được chốt lại “Trong năm sẽ giải quyết dứt điểm mục tiêu cách mạng dân tộc” khiến chúng tôi ai cũng đoán chắc sẽ có một bước ngoặt lịch sử. Tại cơ quan Thông tấn xã, tất cả phóng viên được chia thành từng mũi tỏa về các tỉnh. Tôi và Phạm Đức Yên được phân công đi Phú Yên. Từ căn cứ Trà My, chúng tôi cứ theo giao liên đi bộ xuyên rừng, qua Kon Tum rồi tới Trạm Lập. Từ đây vượt đường 19 qua Kong Chro, xuống Củng Sơn rồi tìm về Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Phú Yên. Cuộc hành quân ròng rã gần 1 tháng trời. Vừa tới nơi thì được tin quân ta đã giải phóng Buôn Ma Thuột, địch đang tháo chạy tán loạn trên đường 7 (Quốc lộ 25 bây giờ). Tôi đi nhờ chiếc xe Jeep của bộ đội theo đường 7 ngược lên. Bấy giờ bị quân ta liên tục chặn đánh, địch đã hoàn toàn tan rã. Trước mắt tôi là một cảnh tượng kinh hoàng: Mặt đất ngổn ngang những xác xe cháy, súng ống, mũ sắt và xác người. Bên bìa rừng từng đám lính địch túm tụm, vẻ mặt phờ phạc thất thần. Vừa bấm xong mấy kiểu ảnh, tôi chợt để ý đến một đám khoảng chục người đang nằm lả dưới một tán cây rừng. Trong số họ có một người đàn ông không rõ dân hay lính vì anh ta chỉ mặc độc chiếc quần đùi, tay ẵm đứng một đứa bé chừng 2 tuổi. Đứa bé đói lả, gục trên vai anh ta khóc không thành tiếng. Thấy tôi khoác trên vai chiếc ruột tượng đựng gạo, mắt anh ta sáng lên nhìn chằm chặp vẻ cầu xin. Ngần ngừ một thoáng, tôi cởi túi gạo đưa cho anh. Gần như giật lấy, anh ta vốc ra một nắm bỏ vào mồm nhại trệu trạo rồi mớm cho đứa bé. Thấy cảnh ấy, tôi không thể cầm lòng phải quay mặt đi”. 

“Đã có bao nhà báo ngã xuống oanh liệt trên chiến trường. Riêng lớp sinh học khóa tôi, 12 người trúng tuyển lớp GP10 đã có 2 người hy sinh. Tuy cũng từng đối diện với bao gian khổ, hiểm nguy nhưng so với thế hệ đi trước, so với những đồng nghiệp đã ngã xuống thì mình là người quá ư hạnh phúc” - Nhà báo Sĩ Huynh kết thúc câu chuyện với vẻ trầm tư…

Ngọc Tấn

Ý kiến của bạn