Hơn nửa thế kỷ sau ngày non sông thu về một mối, chứng kiến sự đổi thay từng ngày của quê hương Đắk Lắk, những người lính năm xưa vẫn nhớ về một thời hoa lửa. Với họ, đó không chỉ là trang sử hào hùng của dân tộc, mà còn là mốc son gắn liền với trọn vẹn tuổi xuân.
Huyền thoại dưới hang đá ba tầng
Trong căn nhà ấm cúng tại phường Ea Kao, lão thành cách mạng Tô Tấn Tài (bà con hay gọi một cách thân thương là Ama H’Oanh) chậm rãi mở lại từng ngăn ký ức.
Sinh năm 1932 tại tỉnh Phú Yên (cũ) trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, ông tham gia du kích từ năm 13 tuổi và vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng khi vừa tròn 18 tuổi. Năm 1959, ông nhận nhiệm vụ về quận Lạc Thiện (huyện Lắk cũ) vận động quần chúng, mở rộng cơ sở nối liền từ Đắk Lắk đến Tây Khánh Hòa, Ninh Thuận, Lâm Đồng. Tuyến đường chiến lược ấy đã trở thành một phần của hành lang Đông Trường Sơn, đưa đón cán bộ và tải hàng vạn tấn lương thực, vũ khí từ hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường miền Nam.
![]() |
| Ông Tô Tấn Tài chia sẻ những kỷ niệm một thời tham gia kháng chiến cùng đồng đội. |
Ký ức những ngày gian lao bám đất, bám dân vẫn vẹn nguyên trong trí nhớ người lão thành cách mạng. Những năm tháng địch càn quét dữ dội, ông chỉ huy du kích cùng nhân dân rút vào hang đá ba tầng (xã Krông Nô, huyện Lắk cũ). Khi bị phát hiện, ông mưu trí dẫn dắt mọi người men theo dòng nước chảy vượt sang hang khác, thoát hiểm trong gang tấc. Cảm phục tấm lòng và sự khôn khéo ấy, bà con mến thương gọi nơi này là “Hang đá Ama H’Oanh”. Năm 2020, Hang đá ba tầng được UBND tỉnh Đắk Lắk công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh.
“Ngày ấy, mỗi buôn làng là một pháo đài. Bà con chặt cây, cắm chông xung quanh, tăng gia sản xuất tiếp tế cho cán bộ, bộ đội. Thiếu thốn, hiểm nguy trăm bề nhưng ai nấy một lòng hướng về Đảng, che chở cán bộ như người thân ruột thịt”, ông Ama H’Oanh bồi hồi nhớ lại.
Sự gắn bó máu thịt, hết lòng vì nhân dân đã tiếp bước cho ông Ama H’Oanh qua nhiều vị trí quan trọng: Bí thư Thị ủy Buôn Ma Thuột, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên huấn... Đặc biệt, năm 1975, trên cương vị Bí thư Thị ủy Buôn Ma Thuột, ông trực tiếp vạch kế hoạch phối hợp với bộ đội chủ lực, phát động quần chúng nổi dậy, góp phần làm nên Chiến thắng Buôn Ma Thuột lẫy lừng, mở màn cho Đại thắng Mùa Xuân 1975.
Kinh qua hai cuộc kháng chiến, chiến dịch truy quét FULRO, rồi làm Trưởng đoàn chuyên gia giúp nước bạn Campuchia (1982 - 1986) và sau này là Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Đắk Lắk, ông vẫn giữ trọn sự khiêm nhường, giản dị. Ông bộc bạch: “So với bao đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ, tôi thấy mình quá may mắn. Chứng kiến Đắk Lắk hôm nay đổi thay từng ngày, tôi chỉ mong tỉnh nhà tiếp tục chăm lo hơn nữa cho vùng sâu, vùng xa để cuộc sống bà con ngày càng ấm no, đủ đầy”.
Bàn tay còn lại và khát vọng vươn lên
Chiến tranh đã lùi xa nửa thế kỷ nhưng những vết thương do đạn bom trên cơ thể thương binh Đoàn Ngọc Hiệu (xã Quảng Phú) vẫn nhức nhối mỗi khi trái gió trở trời. Trong ánh mắt hằn vệt thời gian ấy vẫn rực cháy khí chất kiên cường của người lính Cụ Hồ.
Quê ở Thăng Bình (Quảng Nam), 15 tuổi, ông Hiệu đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ, biên chế vào Đại đội hỏa lực C15, trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Đắk Tô - Tân Cảnh ác liệt. Trận đánh năm 1969 đã cướp đi của ông bàn tay phải cùng 57% sức khỏe. Đau đớn hơn, khi đang điều trị thương tích, ông nhận tin dữ: cả cha và mẹ ở quê nhà đều đã ngã xuống dưới bom đạn của kẻ thù.
Năm 1970, ông vào Đắk Lắk lập nghiệp, nên duyên cùng bà Nguyễn Thị Chài. Mất một bàn tay, ông tập làm quen với mọi việc: từ cuốc đất, lái xe máy cày đến khai hoang. Bằng sự kiên trì và nghị lực phi thường, vợ chồng ông đã canh tác, chăm sóc 9 ha cà phê và hoa màu, xây dựng nhà cửa khang trang, nuôi dạy 9 người con trưởng thành.
![]() |
| Phó Bí thư Tỉnh ủy Huỳnh Thị Chiến Hòa cùng đoàn công tác của tỉnh và xã Quảng Phú thăm, tặng quà thương binh Đoàn Ngọc Hiệu. |
Không chỉ làm kinh tế giỏi, ông còn dành gần 20 năm cống hiến cho địa phương trong vai trò đại biểu HĐND cấp xã, công an viên, chi hội trưởng chi hội cựu chiến binh.
Đất nước đã hòa bình hơn nửa thế kỷ song ký ức về những trận vây lấn, giáp lá cà năm xưa vẫn chưa bao giờ phai nhạt trong ký ức của ông. Hy sinh, mất mát đó không gì có thể bù đắp nhưng đối với ông, hạnh phúc lớn nhất là được chứng kiến quê hương, đất nước phát triển từng ngày. Ông Hiệu chia sẻ: “Thấy đường sá thênh thang, buôn làng bừng sáng, con cháu được học hành đến nơi đến chốn, chúng tôi tự hào biết bao vì những hy sinh năm xưa đã kết trái ngọt cho hôm nay”.
Nguyễn Xuân


