Sau gần 30 năm làm báo, với tôi, ký ức đáng nhớ nhất lại là... những bữa cơm trên những nẻo đường tác nghiệp.
Bữa cơm trên rừng và dưới biển
Hai mươi năm trước, tôi đến phân trường Phú Hải - nơi từng là căn cứ thời kháng chiến chống Pháp - Thồ Lồ Ma Dú thuộc xã vùng cao Phú Mỡ, khi ấy là nơi xa xôi nhất của tỉnh Phú Yên (cũ). Tối hôm ấy, tôi ngủ lại cùng các thầy giáo trong căn phòng tập thể đơn sơ. Bữa cơm chỉ có cá khô muối mặn, nồi canh rau rừng, cơm gạo rẫy và vài chén rượu đế chuyền tay nhau giữa cái lạnh miền sơn cước. Không có sơn hào hải vị. Chỉ có những câu chuyện về học trò người dân tộc thiểu số ngày ngày vượt núi đến lớp, về những thầy giáo miền xuôi chấp nhận xa gia đình, bám trường, bám buôn làng. Dưới ánh đèn vàng leo lét, câu chuyện cứ nối dài. Một thầy giáo cười hiền: “Ở đây chẳng có gì để tiêu tiền. Lương lĩnh ra cột lại mang về cho vợ!”. Mọi người cùng cười nhưng tôi hiểu phía sau câu nói vui ấy là biết bao thiếu thốn và hy sinh.
Đêm ấy, giữa núi rừng căn cứ Thồ Lồ năm xưa, tôi hiểu rằng có những giá trị không thể đo đếm bằng vật chất. Ngôi trường nhỏ vẫn lặng lẽ thắp sáng tương lai cho cả một thế hệ. Và có những con người lặng lẽ cống hiến mà không cần nhắc tên.
Một chuyến tác nghiệp, tôi theo ngư dân trên những con tàu nhỏ đánh bắt gần bờ. Biển động. Con tàu chòng chành, bữa cơm chiều nấu mãi không chín vì sóng đánh nghiêng tàu liên tục. Cơm sượng nhưng chẳng ai phàn nàn. Đổi lại là những con cá vừa kéo lên khỏi mặt nước còn ánh sắc bạc.
Ngư dân làm gỏi hoặc nấu món canh “mẳn” nóng hổi. Chỉ cần vài con cá tươi, chút mắm, muối, tiêu và ớt là đủ thành món ăn đậm đà giữa trùng khơi. Trong vị mặn của biển, tôi cảm nhận rõ hơn bao giờ hết sự nhọc nhằn của những con người quanh năm cùng sóng gió. Mỗi chuyến ra khơi là một cuộc mưu sinh. Nhưng sâu xa hơn, đó còn là sự hiện diện bền bỉ của người Việt trên vùng biển quê hương, góp phần gìn giữ những ngư trường truyền thống và chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
![]() |
| Đường về thôn Phú Mỡ hôm nay (Thồ Lồ xưa), đường sá đã thông thoáng thuận lợi. |
Một trong những bữa cơm tôi không thể nào quên là bữa cơm với những người lính ở đảo Song Tử Tây, thuộc quần đảo Trường Sa thân yêu nước Việt.
Sau hai đêm một ngày vật vã vì say sóng, tôi gần như không thể nuốt nổi cơm trên tàu. Đầu óc quay cuồng, người mệt lả. Những người lính trẻ chăm sóc chúng tôi như người thân, nhường phần rau xanh vốn rất quý trên đảo, pha nước gừng, động viên từng chút một.
Giữa trùng khơi xa thẳm, tình quân dân thật giản dị mà thiêng liêng. Bữa cơm hôm ấy không chỉ giúp tôi lấy lại sức khỏe mà còn giúp tôi hiểu thêm về sức mạnh của tình người. Nơi ấy, những người lính đảo chắc tay súng gìn giữ từng tấc biển quê hương. Chính họ làm cho những khái niệm tưởng chừng lớn lao như chủ quyền, Tổ quốc trở nên gần gũi bình dị mỗi ngày.
Bữa cơm ở vùng bão lũ và nơi vùng sâu
Có những chuyến đi mà ký ức còn đọng lại là nước mắt...
Tháng 11/2009, một trận lũ lịch sử đã quét qua Xóm Trường, xã Xuân Quang 2, huyện Đồng Xuân (Phú Yên cũ). Lũ dữ đã san phẳng toàn bộ ngôi làng, cướp đi sinh mạng của nhiều người dân. Tôi theo đoàn lực lượng vũ trang cứu trợ vào Xóm Trường, sau khi cơn lũ đi qua. Không còn hình dáng một ngôi làng, chỉ còn một bãi bùn đất còn ngổn ngang. Những cỗ quan tài xếp hàng dài, vừa được vận chuyển bằng trực thăng quân sự vì đường bộ hoàn toàn chia cắt. Không khí tang thương bao trùm!
Những ngày ấy, chuyện ăn uống dường như trở nên vô nghĩa. Đói quá thì nhai tạm gói mì sống hoặc miếng lương khô. Trước những ánh mắt thất thần của người dân mất nhà cửa, mất người thân, mọi cảm giác riêng tư dường như quá nhỏ bé.
Cuối năm 2025, trong chuyến tác nghiệp kết hợp cứu trợ bà con vùng lũ Hòa Thịnh, tôi lại có thêm một ký ức khác.
Đoàn công tác đi liên tục từ sáng đến xế chiều. Đói lả. Điều bất ngờ là chính những người dân vừa nhận cứu trợ lại mời chúng tôi ăn cơm. Tô mì tôm làm canh, cơm nóng, vài chiếc bánh tráng và chén mắm, đều là những thực phẩm cứu trợ vừa nhận được. Bà con vừa đi qua thiên tai, cuộc sống còn bộn bề khó khăn nhưng vẫn sẵn lòng sẻ chia. Bữa cơm hôm ấy làm ấm cả bụng lẫn lòng người. Tôi nhận ra rằng, trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, điều giúp con người đứng vững nhiều khi không phải vật chất mà chính là nghĩa tình.
![]() |
| Bữa cơm trưa đạm bạc với anh chị em cán bộ xã Ea Trang. |
Mới đây, tôi có dịp ăn bữa với cán bộ xã Ea Trang, một trong những địa bàn còn nhiều khó khăn của tỉnh Đắk Lắk. Nơi đây có 15 dân tộc anh em cùng sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 94,6%; số hộ nghèo và cận nghèo còn chiếm tỷ lệ rất lớn (khoảng 50%). Một xã quá khó khăn.
Quanh mâm cơm đơn sơ hôm ấy là câu chuyện về trách nhiệm của những người đang ngày đêm gắn bó với cơ sở. Sau khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, nhiều cán bộ tăng cường từ huyện về xã công tác, xa gia đình, sinh hoạt tập thể trong điều kiện còn thiếu thốn.
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Ea Trang nhiều ngày làm việc gần như không có giờ nghỉ. Cuối tuần, chị lại xuống các buôn để nắm bắt đời sống người dân. Nhiều chuyến đi như thế, tiền lương tháng vơi đi đáng kể vì gặp những hoàn cảnh quá khó khăn cần giúp đỡ.
Có những người lặng lẽ nhận phần thiệt thòi về mình để vùng đất họ gắn bó có cơ hội đổi thay. Những đóng góp ấy hiếm khi xuất hiện trên mặt báo. Nhưng chính họ đang tạo nên những thay đổi từ cơ sở.
***
Những bữa cơm ấy đều là những bài học dạy tôi về sự cống hiến, nghị lực bám biển, tình đồng chí, nghĩa đồng bào nơi đầu sóng và giúp tôi thêm vững tin vào những người đang âm thầm phụng sự cộng đồng… Và cũng từ những bữa cơm ấy, người làm báo có thêm lý do để yêu nghề, yêu đời và tiếp tục lên đường…
Trần Quới


