Người tựa vào âm nhạc đi kháng chiến

“Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình”, tôi nghe kể chuyện về Vũ Trung Uyên từ những ngày anh ở chiến khu qua lời kể vài người thân quen. Lúc ấy tôi chỉ là cậu sinh viên trong lòng đô thị miền Nam, tuy chưa gặp nhưng đã cảm mến anh từ đó.

Vũ Trung Uyên tên thật là Võ Văn Duật, sinh năm 1937 tại xã An Định, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (cũ); năm 1949 anh học Trường Trung học kháng chiến Lương Văn Chánh. Đến những năm 1953 - 1954, Vũ Trung Uyên học thuốc Bắc để chữa bệnh; vừa tham gia du kích xã chống càn chiến dịch Át-lăng của thực dân Pháp đổ bộ lên Phú Yên, vừa tham gia phong trào văn nghệ địa phương. Lúc này, Uyên được người anh con cậu ruột là nhạc sĩ Nhật Lai (anh ruột nhà thơ Nguyễn Mỹ) dạy hát.

Khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, trước lúc tập kết ra Bắc, nhạc sĩ Nhật Lai đã tặng lại anh cây đàn guitar gỗ. Món quà dường như một sự trao truyền thêm chất men âm nhạc từ người anh đi trước.  Được đắm mình trong dòng suối ca nhạc cách mạng đầy hưng phấn của thời trai trẻ chính là lực hút vô hình màu nhiệm níu kéo Vũ Trung Uyên rời Sài Gòn hoa lệ vào đầu xuân 1962 quay về Tuy An bí mật lên chiến khu tham gia kháng chiến.

Trước đó, trong thời gian ở Sài Gòn, Uyên vừa học văn hóa vừa tìm sách âm nhạc về tự học, tự trau dồi nhạc lý. Năm 1961, anh sáng tác ca khúc đầu tay mang tên “Nhớ nhung”, về sau còn có ca khúc “Một chiều trăng” được người thân và bạn bè tán thưởng. Tất cả những vốn liếng kiến thức âm nhạc tự tìm tòi sáng tạo đã tôi luyện nên một tác giả địa phương viết ca khúc tân nhạc cách mạng duy nhất nơi chiến khu Phú Yên thời đánh Mỹ.

 

Dù kháng chiến khó khăn, gian khổ ác liệt song việc sáng tác âm nhạc đối với Vũ Trung Uyên đều cần thiết và tự nhiên như cơm ăn, nước uống, khí trời để thở. Lúc phụ trách Huyện Đoàn Thanh niên Tuy An kháng chiến, anh cho ra đời 2 ca khúc: “Câu chuyện con cù lần” và “Những bước chân đi” (1963). Khi ở Khu 5, anh sáng tác bài hát “Ta đi trên đường vinh quang” (1964). Thời gian anh đảm nhiệm vai trò Chính trị viên kiêm Trưởng Đoàn văn công Tỉnh ủy Phú Yên, anh đã sáng tác một loạt các ca khúc kịp thời phục vụ kháng chiến, phục vụ cách mạng như: “Bài ca xuống đường”, “Tiến công và nổi dậy”, “Bài ca đội nữ pháo binh”, “Sông núi đẹp mùa hoa dũng sĩ”, “Hát mừng đơn vị 202”, “Đẹp vô cùng anh giải phóng quân”…  Phục vụ cho tổng tiến công Tết Mậu Thân, vào đầu năm 1968 anh đã viết ca khúc hùng tráng “Đường về Nhạn Tháp”, trong đó đoạn kết như một lời hịch đầy lạc quan tin tưởng: “Đi đi lên sức mạnh dời non, trai gái trẻ già một lòng/ Đi đi lên, đây là thời cơ muôn thuở của chúng ta hằng mong/ Trời bừng ánh rạng đông, cách mạng ắt thành công”.

Vũ Trung Uyên còn viết ở nhiều thể loại khác nữa nhằm phục vụ quân dân và các chiến dịch như: kịch dân ca, kịch nói, tiểu phẩm hài, bài chòi…

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Uyên còn viết lời cho nhiều ca khúc của nhạc sĩ Bằng Linh ở Đài Phát thanh tỉnh Phú Khánh. Đặc biệt, Vũ Trung Uyên đã sáng tác toàn bộ lời ca và viết phần nhạc dạo mở đầu cho ca khúc “Tiếng hò trên đồng lúa Tuy Hòa”, tạo cảm hứng để nhạc sĩ Hoàng Thơ Huy hoàn chỉnh tác phẩm có tiếng vang này.

Sau mùa Xuân 1975 Uyên sáng tác thơ ca nhiều hơn. Thơ anh thường viết về tình yêu quê hương đất nước, tình đồng đội nghĩa đồng bào, tình gia đình làng xóm… với ngôn từ chắt lọc, cô đọng. 

Quê ở thôn An Định, xã Tuy An Bắc (tỉnh Đắk Lắk), đầu năm 1962, Vũ Trung Uyên thoát ly tham gia chiến đấu, đến 1967 làm Đoàn trưởng kiêm Chính trị viên Đoàn văn công Giải phóng tỉnh Phú Yên; năm1977 là sáng lập viên kiêm Bí thư Chi bộ Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Khánh; từ năm 1981 đến khi về hưu là Trưởng Phòng Văn nghệ Đài Phát thanh tỉnh Phú Khánh.

Nguyễn Tường Văn

Ý kiến của bạn