Bảo đảm tính khả thi của chỉ tiêu giảm số vụ phạm tội về trật tự xã hội

Chiều 11/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Nghị quyết về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện KSND, của TAND và công tác thi hành án.

Phát biểu thảo luận tại phiên làm việc, đại biểu Đỗ Khắc Hưởng, Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) nhất trí cao với sự cần thiết ban hành Nghị quyết. Trên cơ sở bám sát các quan điểm chỉ đạo xây dựng Nghị quyết, đại biểu đã đóng góp ý kiến chi tiết một số nội dung để hoàn thiện dự thảo nghị quyết.

Đối với điểm a khoản 1 Điều 2 dự thảo nghị quyết quy định chỉ tiêu giảm số vụ phạm tội về trật tự xã hội, đại biểu đề nghị chỉnh sửa quy định “phấn đấu giảm ít nhất 10% so với năm trước” thành “phấn đấu giảm 10% so với năm trước”. Việc chỉnh sửa này nhằm bảo đảm đúng chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết số 18 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và phù hợp với các quan điểm chỉ đạo xây dựng nghị quyết nêu tại Tờ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bảo đảm tính khả thi của chỉ tiêu được giao.

Đại biểu Đỗ Khắc Hưởng, Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) phát biểu thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp
Đại biểu Đỗ Khắc Hưởng, Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) phát biểu thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp

Đại biểu phân tích: Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện nay các lực lượng trực tiếp thực hiện công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đang rất nỗ lực, quyết tâm thực hiện các biện pháp để kéo giảm các loại tội phạm nhưng kết quả mới đang dần tiệm cận và chưa bền vững đạt giảm số vụ phạm tội về trật tự xã hội như chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết số 18.

Do vậy, quy định chỉ tiêu như trong Nghị quyết số 18 đã là chỉ tiêu cao và mới được đề ra. Nếu quy định chỉ tiêu cao quá khả năng thi hành sẽ gây áp lực không tích cực đối với cơ quan thực hiện và có thể dẫn đến việc báo cáo kết quả thực hiện và kết quả giám sát, đánh giá không sát với thực tế, ảnh hưởng đến niềm tin và tạo sự căng thẳng giữa cơ quan thực hiện và cơ quan giám sát.

Liên quan đến chỉ tiêu không để người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân trốn khỏi cơ sở giam giữ quy định tại điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 5, dự thảo nghị quyết đang đưa ra 2 phương án. Đại biểu cho rằng mỗi phương án đều có ưu, nhược điểm riêng và đề nghi lựa chọn phương án 2. Quy định như phương án 2 vừa bảo đảm tạo ra áp lực tích cực đối với cơ quan thực hiện, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm tính khả thi; đồng thời, thể hiện yêu cầu ngặt nghèo trong quản lý giam giữ và bảo đảm tính chính xác của kết quả báo cáo và giám sát.

Đại biểu nhận định, phương án 1 chỉ áp dụng chỉ tiêu đối với trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân trốn khỏi nơi giam giữ khi nguyên nhân là do thiếu trách nhiệm của cơ sở giam giữ, tức là do nguyên nhân chủ quan từ cơ quan, người thực hiện công tác giam giữ.

Đại biểu tham dự phiên làm việc. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp
Đại biểu tham dự phiên làm việc. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp

Thực tế cho thấy nhiều vụ việc người bị giam giữ trốn khỏi nơi giam giữ là do cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan và nhiều trường hợp khó có thể xác định rạch ròi là do nguyên nhân nào. Mặt khác, phương án 1 chỉ tính những vụ việc do thiếu trách nhiệm, tức là do lỗi vô ý là chưa toàn diện. Do vậy, lựa phương án 2 là phù hợp.  

Đối với điểm đ khoản 2 Điều 2; điểm đ khoản 1 và điểm e khoản 2 Điều 3, điểm a khoản 2 Điều 4 quy định nhiệm vụ tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm, truy tố, thực hành quyền công tố, xét xử đối với các vụ án liên quan đến tội phạm nguy hiểm, đại biểu nêu rõ: Bộ luật Hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành không có khái niệm tội phạm nguy hiểm.

Trong phân loại tội phạm không có loại tội phạm này nên thực tế thi hành Nghị quyết số 96 thời gian qua, các cơ quan chức năng gặp khó khăn do không xác định được cụ thể là những tội phạm nào để thực hiện cho đúng, để thống kê báo cáo và đề giám sát việc thi hành. Do vậy, đại biểu đề nghị sửa lại là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Quy định như vậy sẽ đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đúng tinh thần của nghị quyết, phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự và bảo đảm tính khả thi.

Đồng thời, đại biểu cũng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát lại các điểm, khoản nêu trên để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của các quy định vì cùng điều chỉnh về một vấn đề nhưng hiện còn có một số nội dung khác nhau.  

Liên quan đến khoản 1 Điều 1 quy định về phạm vi điều chỉnh, có quy định về giám sát thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ quy định tại nghị quyết và khoản 3 Điều 7 quy định về trách nhiệm của các chủ thể giám sát trong thực hiện nghị quyết, đại biểu cho rằng, khoản 2 Điều 1 không quy định các chủ thể thực hiện quyền giám sát là đối thượng áp dụng của nghị quyết, do đó, cần nghiên cứu, chỉnh lý hoàn thiện hơn.

Thảo luận góp ý về điểm c khoản 1 Điều 6 quy định Chính phủ, TAND tối cao, Viện KSDN tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm kịp thời giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đại biểu cho rằng, hiện nay, ngoài Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, còn có một số luật khác cũng có quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, như Luật Tố cáo, Luật Thanh tra, Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý thuế,… Do vậy, đại biểu đề nghị nghiên cứu đề chỉnh lý cho phù hợp.

Cũng trong phiên làm việc chiều nay, Quốc hội nghe các tờ trình, báo cáo thẩm tra và thảo luận tại tổ về đề nghị phê chuẩn hiệp định liên quan đến Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận.

Lan Anh
 

Ý kiến của bạn