Đọng vị ân tình trong món ăn Lào ở Buôn Đôn

Tôi trở lại Buôn Đôn khi cơn mưa rừng Yok Đôn vừa dứt, vạt nắng chiều vắt ngang những ngọn cây dầu, ngả bóng xuống dòng Sêrêpốk.

Buôn Đôn đón tôi bằng mùi khói bếp quyện vị nồng cay của ớt chỉ thiên, vị ngai ngái của lá sắn giã mịn và tiếng cười xởi lởi của người dân buôn Trí. Ở đây, ẩm thực là cuốn nhật ký bằng hương vị ghi lại trọn vẹn triết lý sống, lịch sử di cư và tình nghĩa của người Lào trên đất Tây Nguyên.

Nhiều người lần đầu chạm ngõ ẩm thực Lào ở Buôn Đôn thường băn khoăn: “Sao lượng thịt cá lại ít đến khiêm tốn, còn rau rừng, thảo mộc lại chiếm phần nhiều?”. Nhưng sau đó người ta mới ngộ ra triết lý "dùng thịt cá làm chất dẫn, lấy rau củ làm gốc rễ". Thịt cá sông không phải để ăn thỏa thích, mà được hầm ninh kỹ để tiết ra vị ngọt thanh tự nhiên, làm nền cho hàng trăm loại rau rừng tỏa sáng.

Món canh nấm của người Lào ở Buôn Đôn. Ảnh: Khăm Kẹo

Ngay cả cách đồng bào ứng xử với những con cá mương bắt từ dòng Sêrêpốk cũng là một nghệ thuật. Để khử mùi tanh, các mẹ, các chị dùng đọt phắc-ca-đôn, lá phắc-siếu mang vị chua chát dịu nhẹ hay ngắt lá é, lá chanh Thái thêm vào. Khi làm món mọc (cá xíu bọc lá chuối nướng), họ giã thêm khạu-khụa (thính gạo nếp), lá y-tu cùng ngọn phắc-nạu – thứ rau có mùi nồng gắt lúc tươi nhưng khi gặp nhiệt lại tỏa ra hương thơm ngào ngạt. Họ còn vò lá sương sâm rừng lấy nước cốt xanh thẫm, trộn cùng bột nếp sánh mịn đổ vào nồi canh măng để tạo độ ngọt bùi.

Vào mùa mưa, sản vật đại ngàn càng thêm phong phú. Bữa ăn dân dã của người Lào có khi là kạ-pòm (kỳ nhông rừng) hay con nhông cát đào được dưới chân đồi, khi lại là hết-phỏ (nấm búp), hết-hẳm-fan (nấm trứng) nấu canh măng. Đặc biệt, khi cơn mưa đầu mùa trút xuống, họ lại rủ nhau đi bắt ếch ương. Tôi nhớ mãi món ếch ương om măng chua do chính tay anh Manet Lào chế biến. Vị béo ngọt của thịt ếch quyện vào vị chua thanh của măng rừng khiến miếng ngon đọng mãi.

Đỉnh cao của sự tinh tế phải kể đến món lá sắn xào và lạp-thau (lạp rêu). Đọt sắn non được giã mịn vắt bớt nhựa, đem xào cùng cá hấp, ớt, sả và hoa đu đủ đực, tạo nên vị đắng dịu hòa lẫn vị ngọt hậu vô cùng cuốn hút. Còn lạp-thau là thứ rêu xanh mướt vớt từ suối nguồn trong vắt, tẩm ướp cùng gừng, riềng, mắm pạ-đaẹc và ngọn phắc-khả, mang trọn vị tươi ngon, mát rượi của đại ngàn.

Ăn món ăn Lào ở Buôn Đôn đã ngon, nhưng ăn trong không khí ấm áp tình nghĩa của đồng bào thì vị ngon ấy mới nhân lên gấp bội. Làm sao quên được những buổi chiều quây quần bên gian bếp ấm cúng của gia đình mẹ Khăm Bo, mẹ Đăm, mẹ Xọn... Ký ức về mẹ Khăm Kong và mẹ Kịnh-Kẹo-Vi-Lay vẫn còn vẹn nguyên trong tôi. Ngày ấy, mỗi lần tôi ghé thăm, dù trời đã ngả muộn, hai bà vẫn lụi hụi trong bếp, dọn cơm ra và giục tôi ăn kẻo nguội. Bây giờ, hai mẹ đã về cõi mộng nhưng hơi ấm từ những đôi bàn tay tần tảo ấy với tôi vẫn là một khoảng lặng thiêng liêng.

Sức sống văn hóa ở Buôn Đôn hôm nay vẫn đang tiếp nối. Ở dải đất này, ranh giới giữa các dân tộc Lào, Êđê, J’rai hay M'nông dường như bị xóa mờ. Họ sống chan hòa, học hỏi lẫn nhau từng cách chế biến món ăn, cùng chia nhau bó rau rừng, con cá mương bắt dưới sông.

Mỗi lần chia tay Buôn Đôn, lòng tôi lại trào dâng cảm xúc nghẹn ngào. Mẹ Khăm-Bo lụi hụi múc bịch canh lá muồng nấu da bò cho tôi mang theo; chị Che người Êđê chuẩn bị con gà nướng thơm phức. Còn mẹ Đăm tỉ mỉ múc bún Lào vào hộp, xách ra tận xe rồi không quên dặn dò đầy âu yếm: "Nhiều thế này ăn dọc đường không hết đâu, về nhà cứ bỏ tủ lạnh, lúc nào ăn thì đem hâm nóng lại, con nhé!". Vợ chồng chị Sa-Mít, anh Nay Niêm thì lâu lâu gặp thức ngon, món lạ lại mua gửi biếu tôi. Mỗi món quà trao tay không chỉ là thức ăn, mà là cả một tấm lòng bao la của những người dân miền biên giới.

Ẩm thực Lào ở Buôn Đôn có vị đắng của hoa đu đủ, vị chua của lá rừng, vị nồng của mắm pa-đaẹch, nhưng đọng lại sâu thẳm nhất vẫn là vị ngọt ngào của lòng hiếu khách, của những ân tình đong đầy chẳng bao giờ phai nhạt theo thời gian.

Khăm Kẹo Tha Na Sủn Thon

Ý kiến của bạn