Với người Việt, từ xa xưa, chiếc nỏ không chỉ là công cụ săn bắt hay vật dụng lao động, mà từng là vật bất ly thân của đàn ông nơi núi rừng, gắn với những chuyến đi rẫy, những mùa săn và cả hành trình giữ buôn làng giữa đại ngàn.
Ngày trước, nỏ được dùng để tự vệ, giữ rẫy, xua đuổi thú rừng phá hoại mùa màng và săn bắt cải thiện bữa ăn gia đình. Người bắn nỏ giỏi được bà con buôn làng nể trọng bởi khả năng đọc hướng gió, đo khoảng cách và đưa mũi tên đi đúng đích chỉ bằng đôi mắt cùng kinh nghiệm tích lũy.
Trong ký ức xa xưa, chiếc nỏ còn hiện lên với dáng vẻ huyền thoại cùng câu chuyện nỏ thần từ buổi đầu dựng nước. Từ truyền thuyết đến những mũi tên đồng được phát hiện qua khảo cổ, có thể thấy cha ông từng chế tác những cây cung, cây nỏ lợi hại để chống giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi…
Việc chế tác một cây nỏ có lực mạnh, đường tên bay chuẩn xác cần sự tài hoa và cái tâm của người thợ. Ông Ngân Văn Huy (người dân tộc Thái, ở thôn Hòa Thanh, xã Ea Nuôl) được biết đến như một người "giữ lửa" cho nét văn hóa độc đáo này.
![]() |
| Người dân xã Ea Nuôl luyện tập bắn nỏ. |
Ông kể, bản thân ông học làm nỏ từ khi còn rất nhỏ. Thuở ấy, hầu như nhà nào cũng có nỏ. Đám trẻ lớn lên cùng tiếng dao gọt tre, tiếng dây nỏ bật tanh tách mỗi chiều.
Để làm một cây nỏ tốt, đầu tiên phải chọn nguyên liệu làm thân nỏ và cánh nỏ. Thân nỏ phải làm từ loại gỗ chắc, có độ đàn hồi cao, không cong vênh. Chọn được gỗ rồi chưa thể làm ngay mà phải treo lên gác bếp hong khô nhiều ngày để gỗ ổn định, tránh nứt và giữ độ bền. Nếu thân nỏ là phần tạo dáng thì cánh nỏ lại là nơi giấu sức mạnh. Cánh nỏ được làm từ loại tre chuyên dụng, phải đủ già và có độ dẻo tốt.
Nhưng điều được người làm nỏ xem như “linh hồn” của cây nỏ lại nằm ở bộ phận nhỏ bé nhất, là chiếc lẫy. Lẫy nỏ quyết định độ ăn dây và khoảnh khắc nhả tên. Lẫy tốt phải giữ dây chắc nhưng khi bóp lại nhả gọn, không rung, không giật. Chỉ cần lẫy lệch hoặc ma sát lớn, mũi tên sẽ mất lực và đổi hướng.
Ngày trước, dây nỏ được làm hoàn toàn thủ công bằng dây gai. Người ta chặt cây gai, chẻ nhỏ, tước lấy xơ rồi bện nhiều sợi thành dây. Trước khi sử dụng còn quết lớp lá dâm bụt để tạo độ ẩm, tăng độ đàn hồi. Ở phần giữa dây, người làm quấn thêm lông ngan hoặc lông ngỗng để lẫy trượt êm hơn, tránh đứt dây.
![]() |
| Bắn nỏ trở thành môn thi đấu trong các hội thi, hội thao truyền thống ở xã biên giới Buôn Đôn. |
Công phu nhất là làm tên nỏ. Tên phải được vót từ tre già hoặc lồ ô già, thân đặc và thẳng. Sau khi vót nhẵn, người thợ gắn thêm ba cánh lá nhỏ ở đuôi để giữ ổn định đường bay. Ông Huy cầm một mũi tên đưa lên ngang mắt rồi bảo: “Tên nhìn nhỏ vậy thôi nhưng làm cực lắm. Chỉ cần lệch chút xíu là không bao giờ trúng hồng tâm”.
Thời gian trôi đi, những cánh rừng đại ngàn nay được bảo vệ nghiêm ngặt, tập tục săn bắn cũng lùi vào quá khứ. Tuy nhiên, chiếc nỏ không vì thế mà biến mất. Nó bước ra khỏi những chuyến đi săn để hiện diện trong các ngày hội văn hóa, hội thao dân tộc và những cuộc thi thể thao truyền thống.
Tại đây, môn bắn nỏ luôn thu hút đông đảo người dân tham gia và cổ vũ. Tiếng hò reo, tiếng trống hội hòa cùng tiếng vỗ tay vang dội mỗi khi một mũi tên cắm phập vào hồng tâm tạo nên một bầu không khí náo nức, thắt chặt tình đoàn kết buôn làng.
Ông Lê Thanh Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã Buôn Đôn cho biết, bắn nỏ đã trở thành một trong những môn thể thao được địa phương quan tâm duy trì. Môn bắn nỏ dành cho cả nam và nữ, với hai nội dung đứng bắn và quỳ bắn ở cự ly từ 20 - 30 mét. Qua các ngày hội văn hóa, hội thao, đã phát hiện nhiều vận động viên có năng khiếu và đạt thành tích cao.
Giữa nhịp sống hiện đại, có những điều đã rời khỏi rừng sâu nhưng chưa từng mất đi. Chiếc nỏ của đại ngàn là một trong số đó, không chỉ bởi sức mạnh của cánh tre và dây kéo, mà bởi trong từng tiếng lẫy bật lên vẫn còn ngân vọng ký ức và bàn tay của những người lặng lẽ giữ nghề…
Quỳnh Anh


