Chiều 10/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc.
Tham gia góp ý dự án Luật, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk quan tâm đến quyền khởi kiện, thời hạn giải quyết bồi thường và quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.
Góp ý vào Khoản 24 Điều 1 dự thảo Luật (sửa đổi, bổ sung Điều 52), liên quan đến quy định rút yêu cầu bồi thường, đại biểu nêu rõ: Dự thảo Luật quy định “người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường trước khi cơ quan giải quyết bồi thường tiến hành xác minh thiệt hại”.
Theo đại biểu, quy định này chưa phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 51 của Dự thảo. Bởi lẽ, Điều 51 Dự thảo luật quy định “người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường trước khi quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực”. Trong khi, điểm b khoản 1 Điều 52 chỉ quy định quyền khởi kiện tại Tòa án đối với trường hợp “rút yêu cầu trước khi cơ quan giải quyết bồi thường tiến hành xác minh thiệt hại”.
![]() |
| Đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk phát biểu thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp |
Đại biểu phân tích như vậy, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường sau khi cơ quan giải quyết bồi thường đã tiến hành xác minh thiệt hại nhưng trước khi quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực thì sẽ được thực hiện như thế nào? Người yêu cầu bồi thường trong trường hợp này có được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường hay không? Nếu không làm rõ chắc chắn việc việc áp dụng pháp luật sẽ có cách hiểu khác nhau. Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu chỉnh lý để đảm bảo tính thống nhất giữa quy định này với điểm a khoản 1 Điều 51 của Dự thảo, tránh tạo ra khoảng trống pháp lý làm ảnh hưởng quyền lợi của người yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Đối với nội dung sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 52, dự thảo Luật quy định: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường, hoặc hết thời hạn giải quyết mà cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định, người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết”.
Đại biểu cho rằng, khi người dân không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường, việc phải chờ thêm 60 ngày mới được khởi kiện là vấn đề cần được đánh giá kỹ.
Theo đại biểu, khi Nhà nước đã ban hành quyết định giải quyết thì quyền của người bị thiệt hại đã được xác định; nếu họ không đồng ý thì cần có cơ chế để họ được nhanh chóng đưa vụ việc đến Tòa án, thay vì phải trải qua thêm một khoảng thời gian chờ đợi. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trước hết phải được nhìn nhận từ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Người dân đã chịu thiệt hại do hoạt động công vụ thì không nên tiếp tục chịu thêm sự chậm trễ từ chính quy trình giải quyết của cơ quan nhà nước.
![]() |
| Các đại biểu tham dự buổi làm việc. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp |
Ngoài ra, khoản 2 Điều 52 của Dự thảo Luật mới chỉ quy định thời điểm tính thời hạn khởi kiện trong trường hợp người yêu cầu bồi thường nhận được quyết định giải quyết bồi thường hoặc cơ quan giải quyết bồi thường không ban hành quyết định đúng thời hạn, nhưng chưa quy định rõ trường hợp người yêu cầu bồi thường không nhận được quyết định giải quyết bồi thường hoặc phát sinh vướng mắc trong việc tống đạt quyết định.
Do vậy, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu chỉnh lý khoản 2 Điều 52 theo hướng rút ngắn thời hạn 60 ngày, hoặc quy định: người yêu cầu bồi thường được quyền khởi kiện ngay khi không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường, đồng thời chỉnh lý quy định này đồng bộ với Điều 47 và các quy định về trình tự giải quyết bồi thường, tránh trường hợp cách tính thời hạn khác nhau dẫn đến việc người dân có thể mất hoặc hạn chế quyền khởi kiện do lỗi của cơ quan nhà nước.
Đại biểu nhấn mạnh: “Cải cách pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không chỉ nhằm làm cho thủ tục chặt chẽ hơn, mà quan trọng hơn là phải làm cho quyền được bồi thường của người dân trở nên thực chất hơn”.
Liên quan đến Khoản 32 Điều 1 Sửa đổi, bổ sung khoản 2a vào sau khoản 2 Điều 66, theo dự thảo Luật quy định “Trong trường hợp Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả không xác định được đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 2 điều này thì có văn bản kiến nghị Thủ trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi thường quyết định”, đại biểu cho rằng quy định trên sẽ khó khăn trong việc áp dụng thực hiện.
Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả có trách nhiệm xác định người thi hành công vụ gây thiệt hại, mức độ lỗi, trách nhiệm hoàn trả và mức hoàn trả của từng người để làm căn cứ kiến nghị Thủ trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi thường ban hành quyết định hoàn trả.
Tuy nhiên, khoản 2a lại quy định trường hợp Hội đồng không xác định được đầy đủ các nội dung này thì giao thẩm quyền cho Thủ trưởng trưởng cơ quan quyết định, trong khi dự thảo Luật chưa làm rõ căn cứ nào để Thủ trưởng cơ quan ban hành quyết định trong khi hội đồng được thành lập chính là để tư vấn, đánh giá chuyên môn trước khi người có thẩm quyết quyết định dẫn đến việc quyết định của Thủ trưởng cơ quan thiếu cơ sở khách quan, làm tăng trách nhiệm và rủi ro pháp lý cho người đứng đầu cơ quan.
Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu quy định này nhằm bảo đảm quyết định hoàn trả được ban hành trên cơ sở đầy đủ, khách quan và thống nhất trong quá trình áp dụng…
Lan Anh


