Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI
Cần có cơ chế kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ môi trường, an ninh biển

Chiều 6/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu thảo luận ở hội trường về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Tham gia đóng góp ý kiến Đại tá Trần Quang Tâm, Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh bày tỏ sự đồng tình cao với dự thảo luật và báo cáo tiếp thu, chỉnh sửa của cơ quan soạn thảo, thẳng thắn chỉ ra những điểm nghẽn thực tiễn cần tiếp tục hoàn thiện trên ba nhóm vấn đề trọng tâm gồm kiểm soát ô nhiễm, phân cấp phân quyền và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ đất liền

Về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ đất liền và hoàn thiện hệ thống chính sách của Nhà nước, đại biểu nhận định, hiện nay áp lực ô nhiễm từ đất liền và các hoạt động kinh tế ven biển đang là nguy cơ làm suy kiệt các hệ sinh thái biển.

Tại Điều 4 và Điều 56 của dự thảo mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc chung chung về "phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm" thiếu các công cụ kinh tế mạnh mẽ. 

Đại biểu Trần Quang Tâm thảo luận tại nghị trường. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp
Đại biểu Trần Quang Tâm thảo luận tại nghị trường. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp

Vì vậy đại biểu đề nghị bổ sung hoàn thiện khoản 4 Điều 4 theo hướng: Bổ sung nội dung khẳng định nguyên tắc “Cá nhân, tổ chức gây ô nhiễm hoặc làm suy thoái môi trường biển phải chịu chi phí phục hồi và bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc thị trường”, đồng thời ưu tiên bố trí nguồn thu từ tiền sử dụng biển để đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái biển.

Bổ sung điểm b khoản 2 Điều 56 theo hướng: Cần quy định rõ thời điểm chấm dứt, chế tài cứng rắn và đủ mạnh đối với các điểm xả thải công nghiệp ven bờ, thay vì chỉ giao cho địa phương "rà soát, đánh giá, xác định biện pháp và lộ trình" dễ dẫn đến sự chậm trễ và thiếu hiệu quả trong thực thi.

Quy định rõ cơ chế hỗ trợ tài chính linh hoạt cho ngư dân

Đối với trách nhiệm quản lý nhà nước, phân cấp, phân quyền và cơ chế chính sách, đại biểu nêu rõ, tại Khoản 10 Điều 24 dự thảo quy định thẩm quyền giao, cho thuê khu vực biển, giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp xã.

Tuy nhiên, tại khoản 7 Điều 76 (Điều khoản chuyển tiếp) lại phát sinh độ vênh khi "chưa xác định được ranh giới quản lý hành chính trên biển một cách rõ ràng giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tỉnh, xã", khiến các địa phương lúng túng trong việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp.

Đại biểu đề nghị bổ sung hoàn thiện Điều 7 và Điều 24 theo hướng: Cần thiết lập cơ chế "Một cửa liên thông điện tử toàn trình" đối với các dự án sử dụng không gian biển đa mục đích. Tránh tình trạng nhà đầu tư phải xin giấy phép giao khu vực biển một nơi, đánh giá tác động môi trường/nhận chìm một nơi, dẫn đến kéo dài thời gian và chi phí tuân thủ.

Bổ sung khoản 11 Điều 24, đối với Đề án sắp xếp, bố trí khu vực đã nuôi trồng thủy sản trước ngày 30/3/2021 (thời hạn hoàn thành trước 31/12/2028), cần quy định rõ cơ chế hỗ trợ tài chính linh hoạt hơn cho ngư dân, đặc biệt là ngư dân nghèo, tránh nguy cơ hình thành các "điểm nóng" khi cưỡng chế hoặc di dời sinh kế mà chưa bố trí kịp thời quỹ không gian biển thay thế.

Bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển

Liên quan đến yêu cầu giữ vững yếu tố quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, đại biểu nhấn mạnh, biển đảo là không gian chiến lược đặc biệt nhạy cảm liên quan trực tiếp đến quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, thời gian qua một số dự án đầu tư, các hoạt động nghiên cứu khoa học có yếu tố nước ngoài trong vùng biển Việt Nam tiềm ẩn nguy cơ lợi dụng để thu thập dữ liệu trái phép về đáy biển, cấu trúc địa hình quân sự.

Tại Điều 17 và Điều 18 của dự thảo, có đề cập đến cơ chế chấp thuận mặc nhiên theo Công ước Luật Biển 1982. Tuy nhiên, các tiêu chí loại trừ hoặc đình chỉ khi phát hiện nguy cơ phương hại đến quốc phòng, an ninh tại khoản 4, khoản 5 Điều 17 còn mang tính định tính.

Đại biểu đề nghị bổ sung hoàn thiện Điều 17 theo hướng: Đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học của tổ chức, cá nhân nước ngoài có khoan ở đáy biển hoặc sử dụng thiết bị khảo sát đáy sâu trong vùng biển Việt Nam, tuyệt đối không áp dụng cơ chế chấp thuận mặc nhiên, mà bắt buộc phải qua thủ tục thẩm định trực thường xuyên và có sự tham gia giám sát trực tiếp của lực lượng chuyên trách quốc phòng Việt Nam.

Tại Điều 13 (Những hành vi bị cấm), cần bổ sung rõ hành vi “Cố ý cung cấp sai lệch tọa độ, thông số kỹ thuật hoặc sử dụng dữ liệu điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học biển làm phương hại đến quốc phòng, an ninh” vào nhóm tội danh hoặc vi phạm hành chính đặc biệt nghiêm trọng, làm căn cứ thu hồi giấy phép ngay lập tức và trục xuất người, phương tiện vi phạm.

Đại biểu Trần Quang Tâm nhấn mạnh, một đạo luật về biển đảo đạt chất lượng cao không chỉ thúc đẩy kinh tế biển phát triển bứt phá theo hướng "xanh và bền vững", mà còn phải là công cụ bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Lan Anh
 

Ý kiến của bạn