Đóng góp ý kiến hoàn thiện dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi), đại biểu Lê Đào An Xuân, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh có nhiều kiến nghị từ góc nhìn thực tiễn sản xuất nhằm tháo gỡ những “điểm nghẽn” hạ tầng, logistics và cơ chế thu hút vốn, để các cơ chế ưu đãi đầu tư thực chất, tạo trợ lực hiệu quả cho các chủ thể trong chuỗi giá trị nông nghiệp.
Nhận diện “điểm nghẽn” từ bức tranh nông nghiệp
Dẫn chiếu các định hướng lớn của Trung ương tại Nghị quyết số 19-NQ/TW và Kết luận số 219-KL/TW về xác định nông nghiệp là lợi thế quốc gia, trụ đỡ của nền kinh tế; phát triển công nghiệp chế biến, dịch vụ logistics hiện đại gắn với vùng chuyên canh, đại biểu Lê Đào An Xuân nêu rõ: Thực tiễn cho thấy, đầu tư vào nông nghiệp vẫn còn nhiều điểm nghẽn, nhất là về quy mô vốn, bảo quản sau thu hoạch, chế biến sâu và logistics.
Theo một số thống kê, chi phí logistics chiếm 18-22%, có mặt hàng tới 30% giá thành; chỉ 6% nông sản được bảo quản lạnh ngay sau thu hoạch, 83% phải bán ngay tại ruộng cho thương lái; chỉ khoảng 5% hợp tác xã đủ khả năng đầu tư kho lạnh riêng, thiếu kho lạnh đạt chuẩn khiến tổn thất sau thu hoạch lên tới 20-25%... Trong khi đó, các doanh nghiệp nông nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, khó đáp ứng điều kiện hiện hành để hưởng ưu đãi đặc biệt.
Từ thực tế tỉnh Đắk Lắk, là vùng nguyên liệu lớn về cà phê, sầu riêng, thủy sản và không gian phát triển liên kết rừng - biển, nhu cầu đầu tư vào vùng nguyên liệu, chế biến sâu, kho lạnh và logistics là rất lớn, tuy nhiên là tỉnh thuộc khu vực khó khăn, lại là "vùng trũng" về thu hút đầu tư, nếu thiếu cơ chế ưu đãi phù hợp, rất khó thu hút được các dự án có khả năng hình thành chuỗi giá trị và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản, tạo đột phá trong phát triển kinh tế xã hội.
Phân tích dự thảo Luật và Nghị định hướng dẫn, góp ý cụ thể về Điều 17 quy định ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt, đại biểu cho rằng, điều kiện hưởng ưu đãi đặc biệt chưa phù hợp với đặc thù nông nghiệp, khi Khoản 1 chưa xác định bảo đảm an ninh lương thực là mục tiêu ưu đãi, còn Khoản 2 giao Chính phủ quy định quy mô vốn và thời hạn giải ngân nhưng chưa có nguyên tắc phân biệt theo ngành.
![]() |
| Quang cảnh phiên thảo luận tại hội trường sáng 2/11. Ảnh: quochoi.vn |
Đơn cử như Nghị định số 96/2026/NĐ-CP, dự án thuộc nhóm ngành, nghề đặc biệt ưu đãi phải có vốn đầu tư từ 30.000 tỷ đồng, giải ngân 10.000 tỷ đồng trong ba năm. Đây là ngưỡng quá cao, chưa phù hợp đối với phần lớn dự án nông nghiệp, khiến chính sách ưu đãi đặc biệt khó đi vào thực tiễn.
Bên cạnh đó, chính sách ưu đãi chưa bao quát toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp. Đại biểu nêu rõ, Điểm c khoản 2 mới chú trọng logistics quốc tế, kho dự trữ khu vực và quốc tế; trong khi kho lạnh, logistics nông sản cấp vùng, vùng nguyên liệu và liên kết chuỗi chưa được ưu đãi tương xứng.
Điều này dẫn đến bất hợp lý: nhà máy chế biến có thể được ưu đãi đặc biệt, nhưng vùng nguyên liệu, hệ thống bảo quản và logistics phục vụ chính nhà máy đó lại không được hưởng chính sách tương ứng.
Ngoài ra, cơ chế hỗ trợ chưa phù hợp với chủ thể và chi phí đặc thù của sản xuất nông nghiệp. Khoản 4 chưa đặt ra yêu cầu liên kết, bao tiêu sản phẩm với nông dân và hợp tác xã. Khoản 7 chưa bao quát chi phí đầu tư hạ tầng sản xuất, bảo quản sau thu hoạch, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng; đồng thời chưa mở rộng đầy đủ đối tượng hỗ trợ đến hợp tác xã, tổ hợp tác. Khoản 8 vẫn thiên về tiêu chí quy mô vốn, chưa tính đến hiệu quả liên kết vùng nguyên liệu.
Chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt cần thiết kế theo đặc thù ngành
Để những chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt thực sự được áp dụng cho nông nghiệp ở tầm Luật, đại biểu Lê Đào An Xuân kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 17 và 1 số Điều có liên quan theo hướng phù hợp đặc thù ngành nông nghiệp.
![]() |
| Các đại biểu tham dự phiên làm việc. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh cung cấp |
Theo đó, cần bổ sung mục tiêu “bảo đảm an ninh lương thực” vào khoản 1; mở rộng diện ưu đãi tại khoản 2 đối với các dự án đầu tư bảo quản sau thu hoạch, kho lạnh, chế biến sâu nông, lâm, thủy sản, trung tâm logistics nông sản gắn với vùng nguyên liệu tập trung, dự án sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản; kho dự trữ lương thực; Chính phủ quy định quy mô vốn, thời hạn giải ngân phù hợp với đặc thù từng ngành; đối với dự án quy định tại điểm c1, được áp dụng tiêu chí quy mô liên kết vùng nguyên liệu thay thế tiêu chí quy mô vốn…
Tại Điểm a khoản 4, đề nghị bổ sung cam kết “liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm với nông dân, hợp tác xã; phát triển vùng nguyên liệu”.
Khoản 7, khoản 8: bổ sung chi phí đầu tư hạ tầng bảo quản sau thu hoạch, kho lạnh, hạ tầng vùng nguyên liệu; chứng nhận chất lượng, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng; sửa điểm đ khoản 7 thành “doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác trong nước”; bổ sung “quy mô liên kết vùng nguyên liệu” vào tiêu chí tại khoản 8.
Tại Điều 28, đề nghị bổ sung “khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao” vào khoản 1. Điều 49a, bổ sung điểm d khoản 1: “Vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung ưu tiên thu hút dự án chế biến sâu, logistics lạnh, giống và dịch vụ nông nghiệp công nghệ cao”.
Đại biểu cũng đề nghị Chính phủ sửa tương ứng Điều 21 và Phụ lục II Nghị định 96/2026/NĐ-CP, đặt ngưỡng riêng cho nhóm nông nghiệp; chuyển vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi, kho lạnh, logistics nông sản lên danh mục đặc biệt ưu đãi.
Đại biểu Lê Đào An Xuân nhấn mạnh: Chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt rất cần trong lĩnh vực nông nghiệp và nên được thiết kế theo đặc thù ngành, không chỉ dựa vào dự án đầu tư bao nhiêu tiền, mà còn là dự án tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng, liên kết được bao nhiêu nông dân, hợp tác xã và đóng góp như thế nào cho phát triển kinh tế. Có như vậy, chính sách ưu đãi mới thực sự phát huy hiệu quả, góp phần thu hút đầu tư, nâng cao giá trị nông sản và phát triển nông nghiệp bền vững.
Lan Anh


