Kỷ cương từ hương ước, đồng thuận từ hòa giải

Từ mâu thuẫn gia đình đến những va chạm trong thôn, buôn, nhiều vụ việc ở xã Ea Wer được tháo gỡ ngay khi mới phát sinh. Khi pháp luật chuyển hóa vào hương ước, quy ước và được nói bằng tiếng nói của già làng, người có uy tín, kỷ cương dần hình thành từ chính sự tự giác của cộng đồng.

Năm 2024, khi giá đất tăng, hai hộ liền kề ở thôn 8, xã Ea Wer nảy sinh bất đồng về ranh giới. Chuyện ban đầu chỉ là vài mét đất nhưng nếu không được giải quyết sớm, tình làng nghĩa xóm lâu năm có thể rạn nứt.

Già làng buôn Tul A, Y Khơl Aroh (thứ hai từ trái sang) trò chuyện với công an và cán bộ buôn Tul A.
Già làng Y Khơl Aroh (thứ 2 từ trái sang) trao đổi thông tin cùng chiến sĩ Công an xã Ea Wer và cán bộ buôn Tul A.

Ông Trần Văn Cầu (người có uy tín của thôn), cùng tổ hòa giải đến tận nơi. Không vội phân định đúng - sai, ông nghe từng bên trình bày, tìm hiểu quá trình sử dụng đất rồi cùng các hòa giải viên phân tích quy định pháp luật. Nhưng câu chuyện không dừng ở "cái lý”. Ông nhắc lại điều bà con đã cùng thống nhất trong quy ước khu dân cư: Tôn trọng quyền lợi của nhau, giữ đoàn kết, không để tranh chấp làm mất tình xóm giềng. Khi cái lý được nói rõ, cái tình được khơi lại, hai gia đình cùng lùi một bước và thống nhất ranh giới.

Là người Sán Chay, và là người có uy tín trong buôn, ông Cầu hiểu rằng lời nói chỉ có sức nặng khi người nói được cộng đồng tin tưởng. Sau khi thôn 15 và thôn 16 được sắp xếp thành thôn 8, địa bàn có 9 dân tộc cùng sinh sống, việc tìm tiếng nói chung càng quan trọng. “Có được uy tín là nhờ mình nói thật, làm thật”, ông Cầu đúc kết.

Hơn một năm trước, một đôi vợ chồng ngoài 50 tuổi trong thôn thường xuyên xích mích vì chồng hay làm ăn xa. Ông Cầu gặp riêng từng người, tìm hiểu thêm từ người thân, rồi nhẹ nhàng phân tích trách nhiệm vợ chồng, cha mẹ, những điều về xây dựng gia đình văn hóa mà cộng đồng cùng gìn giữ. Sau nhiều lần khuyên giải, hai người quyết định về chăm sóc vườn rẫy, cùng vun vén lại cuộc sống.

Tại buôn Tul A, già làng Y Khơl Aroh là cầu nối giữa pháp luật, hương ước và phong tục tốt đẹp của cộng đồng.

Đầu năm 2016, người em chồng của Amí Lan từ Thành phố Hồ Chí Minh trở về đòi hai sào ruộng cha mẹ để lại. Việc cho đất trước đó chỉ bằng lời nói; cha mẹ chồng và chồng bà đều đã mất, trong khi các con bà đã canh tác nhiều năm. Phía sau mảnh ruộng là quyền lợi về đất đai, công sức vun đắp và cả tình thân có nguy cơ rạn vỡ.

Già làng Y Khơl Aroh cùng các thành viên tổ hòa giải buôn Tul A đến nhà tuyên truyền, trò chuyện với người dân.
Già làng Y Khơl Aroh (thứ 2 từ phải sang) cùng các thành viên tổ hòa giải buôn Tul A đến nhà tuyên truyền, trò chuyện với người dân.

Già Y Khơl Aroh cùng tổ hòa giải gặp từng bên, tìm hiểu nguồn cơn, quá trình sử dụng đất. Những quy định liên quan được phân tích, nhưng già cũng khơi lại tinh thần coi trọng gia đình, trách nhiệm với con cháu đã được cộng đồng gìn giữ trong hương ước. Sau nhiều lần trò chuyện, người em chồng đồng ý để các cháu tiếp tục sử dụng đất. Mảnh ruộng vẫn còn đó và tình thân cũng được giữ lại.

Những câu chuyện ấy cho thấy hương ước, quy ước chỉ thực sự có giá trị khi đi vào đời sống. Theo Nghị định 61/2023/NĐ-CP, hương ước, quy ước là những quy tắc xử sự do cộng đồng dân cư bàn, quyết định, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, nhằm điều chỉnh các quan hệ mang tính tự quản. Việc xây dựng phải dựa trên sự tự nguyện, thỏa thuận, công khai và phát huy quyền làm chủ của người dân.

Bởi vậy, đưa pháp luật vào hương ước không phải sao chép những điều khoản khô cứng, mà chuyển thành những chuẩn mực sát với đời sống: không lấn chiếm ranh đất; giữ gìn an ninh trật tự, vệ sinh môi trường; phòng, chống bạo lực gia đình; ứng xử văn minh trong việc cưới, việc tang… Những điều ấy được chính người dân bàn bạc, thống nhất rồi cùng thực hiện, giám sát lẫn nhau.

Ở đó, già làng và người có uy tín giữ một vị trí đặc biệt. Họ hiểu phong tục, biết hoàn cảnh từng gia đình và quan trọng hơn là biết lựa lời để pháp luật trở nên gần gũi. Tuy nhiên, hòa giải không đồng nghĩa với xuê xoa. Hương ước không thay thế pháp luật; những vụ việc phải xử lý hành chính hoặc hình sự không thể khép lại bằng một lời xin lỗi hay cam kết.

Trung tá Đoàn Văn Tương, Phó Trưởng Công an xã Ea Wer cho biết, xã có 25 dân tộc cùng sinh sống tại 18 thôn, buôn; đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 40%. Mỗi thôn, buôn đều có tổ hòa giải từ 6 - 8 thành viên. Hằng năm, các tổ giải quyết hàng chục vụ việc, chủ yếu liên quan đất đai, môi trường, hôn nhân và gia đình; tỷ lệ hòa giải thành trên 75%.

Gắn hòa giải với thực hiện hương ước, quy ước đã giúp nhiều mâu thuẫn được nhận diện, tháo gỡ khi chưa trở thành vấn đề phức tạp. Sau mỗi vụ hòa giải thành không đơn thuần là một biên bản hay lời cam kết, mà có thể là hai người hàng xóm lại nhìn mặt nhau, một gia đình giữ được sự êm ấm, những người trong buôn biết dừng lại trước khi mâu thuẫn đi quá xa. Từ những việc rất đời thường ấy, một thứ “trật tự tự thân” dần được hình thành trong cộng đồng, người dân hiểu giới hạn của pháp luật, tôn trọng điều cộng đồng cùng cam kết và tự điều chỉnh hành vi.

Lê Thành

Ý kiến của bạn