Những năm đầu thế kỷ 20, nhằm quảng bá tiềm năng du lịch Đông Dương, các guidebook (cẩm nang du lịch) của người Pháp đã giới thiệu một tuyến du lịch vô cùng hấp dẫn, với điểm đến là Banméthuot (nay là Buôn Ma Thuột).
Du thám miền hoang dã
“Nơi đây mang tất cả sức hút của các vùng miền núi: một vùng đất mới - địa bàn sinh sống của các bộ tộc nguyên thủy, rừng già đại ngàn …” là lời giới thiệu trong cuốn “L'Annam: Guide du Touriste” (Cẩm nang du lịch Trung Kỳ) thuộc Tủ sách Huế xưa, được xuất bản năm 1921, một trong những cẩm nang du lịch có chỉ dẫn sớm nhất đến Đắk Lắk.
Cẩm nang này đã mô tả Đắk Lắk là vùng đất đầy ấn tượng và bí ẩn, là nơi có những đồng cỏ bao la, nơi muông thú tụ tập đông đúc, là “thiên đường” của du lịch săn bắn. Hướng dẫn lữ khách trên đường từ Ninh Hòa lên Buôn Ma Thuột, cuốn cẩm nang cho biết ở quãng giữa đồn kiểm soát M'Drắk và trạm nghỉ chân tại Km số 80 là một địa bàn săn bắn tuyệt vời. Ở đó, có nhiều hươu, nai và kể cả hổ, là những loài mà thợ săn có thể đi săn bằng voi. Đặc biệt, cuốn cẩm nang giới thiệu Buôn Đôn, với vị thế là nơi mua bán voi lớn nhất Đông Dương. Voi ở đây được săn bắt bởi bộ tộc M'nông và được xuất khẩu sang Lào, Xiêm và Miến Điện. Đồng thời, đây cũng là nơi có các sản vật núi rừng nổi tiếng: mật ong, sáp ong, da trâu, da bò, da hươu, da hoẵng… Những thông tin như vậy thực sự cuốn hút những du khách châu Âu thích phiêu lưu, mạo hiểm.
![]() |
| Cuộc diễu hành voi ở Banméthuot đầu thế kỷ 20. Nguồn: Thư viện Nghệ thuật, Nhân văn và Khoa học xã hội (Đại học Côte d'Azur) |
5 năm sau, Buôn Ma Thuột lại hiện lên với vẻ đẹp thiên nhiên độc đáo trong cuốn cẩm nang du lịch kinh điển: "De Saigon à Tourane" (Từ Sài Gòn ra Đà Nẵng) trong bộ cẩm nang du lịch Guides Madrolle lừng danh, được Nhà xuất bản Hachette (Paris) ấn hành (1926). Chủ biên cuốn cẩm nang là nhà thám hiểm và cũng là nhà địa lý học uy tín Claudius Madrolle.
|
Trong cuốn cẩm nang “De Saigon à Tourane”, tác giả Claudius Madrolle hướng dẫn đường từ Bản Đôn đi tháp Ya Lias (nay gọi là tháp Yang Prong). Tháp nằm giữa vùng rừng khộp thưa ở độ cao 200 m, quay mặt về hướng Đông, hình vuông mỗi cạnh 5 m. Thờ ngẫu tượng Linga có khắc hình một cái đầu. Có hai bia ký. Ngôi đền thờ thần Shiva này được xây dựng vào cuối thế kỷ 13 bởi vị vua Chămpa Jaya Simhavarman III (vua Chế Mân). |
Khi vừa đưa khách vượt đèo Phượng Hoàng, cuốn cẩm nang đã vẽ bức tranh thảo nguyên M'Drắk khá sống động: “Con đường xuyên qua một hẻm núi mới có các sườn núi che phủ bởi rừng rậm. Vượt qua nơi này, du khách sẽ bước vào “vùng đất của những đồng cỏ" trên các cao nguyên nhấp nhô của xứ Darlac (Đắk Lắk)”. Và, không chỉ có thảo nguyên còn có khung cảnh núi rừng hùng vĩ, sông suối tiếp nối đầm lầy... Cảnh sắc đổi thay theo địa hình đa dạng. Ấn tượng hơn cả là các ngọn thác cao nhiều tầng hiện ra giữa rừng già. “Lòng sông Sêrêpốk bị chặn bởi các rặng đá phiến và đá núi lửa. Sông có nhiều ghềnh thác và bảy tầng thác liên tiếp. Trong đó, có thác Dray Nur, nơi dòng sông đổ xuống tạo thành một ngọn thác tuyệt đẹp cao 15 mét” - cuốn cẩm nang đặc tả.
Bên cạnh các thông tin địa chí thiết yếu, cuốn cẩm nang chỉ dẫn chi tiết sự hiện diện của các tộc người ở từng nhóm theo địa bàn phân bố như: người Êđê Ktul ở vùng Krông Búk, người Êđê Kpa ở Buôn Ma Thuột, và người Êđê Bih ở vùng ven sông... Cuốn cẩm nang còn mô tả khá sinh động hồ Lắk có mặt hồ nước rộng 3 km x 2 km, khá nông vào mùa khô nhưng phình to như một biển nước nhỏ vào mùa mưa. Vùng đất bằng phẳng trồng lúa này được bao bọc bởi các dãy núi cao lộ ra một đỉnh nhọn ở phía Đông. Cùng với những chỉ dẫn thông thường, cuốn cẩm nang còn tích hợp nhiều tri thức địa lý, văn hóa, dân tộc học cho du khách.
Nếu những năm 1920, săn bắn từ một hoạt động tự phát của các quan binh bắt đầu chuyển sang dịch vụ thì đến năm 1937, cuốn “Guide Alphabétique Taupin” cho thấy nó đã biến thành một ngành dịch vụ hái ra tiền khi giới thiệu về Đắk Lắk rằng: “Trung tâm lớn về săn bắn các loài thú lớn. Tỉnh này thu hút rất nhiều khách du lịch nhờ hoạt động săn bắn”. Cuốn cẩm nang cho thấy dịch vụ này đã được chuyên nghiệp hóa thông qua các chuyên gia dẫn đường lữ hành có kết nối khách sạn tại Buôn Ma Thuột.
Song điều đáng quan tâm hơn, bên cạnh du lịch săn bắn, cuốn cẩm nang đã giới thiệu dòng sản phẩm du lịch mới - du lịch sinh thái đặc trưng bản địa. Đó là tour trải nghiệm mạo hiểm đi thuyền độc mộc trên dòng sông Krông Ana xuất phát từ hồ Lắk. Các tour tham quan các thắng cảnh tự nhiên: thác Dray Nur, Dray Linh hay tháp cổ Yang Prong… kết hợp mua sắm sản phẩm dệt, mây tre đan của người Êđê.
Theo thời gian, để bảo vệ thiên nhiên, du lịch săn bắn đã bị cấm hoàn toàn, song các tour tuyến khác mà “Guide Alphabétique Taupin” thiết kế lại rất gần với mô hình du lịch sinh thái - văn hóa hiện nay.
Lữ hành qua đô thị mới
Buôn Ma Thuột được xem là phố thị mới của vùng cao nguyên phía nam An Nam từ khi được lập thành "centre urbain” (trung tâm đô thị) vào tháng 6/1930. Lữ khách đến đây nhiều hơn, bởi xe hơi chạy dễ dàng vào mùa khô và có khách sạn tiện nghi.
Khác với thập niên 1920, khi du lịch chủ yếu dành cho các giới nghiên cứu, nhà khảo sát thực địa, quan chức và du khách hạng sang đi theo các “tour cao cấp” như hướng dẫn của dòng sách Guides Madrolle, đến thập niên 1930, du lịch Đông Dương đã đại chúng hóa (du khách là công chức thuộc địa, thương nhân) và nội địa hóa. Du khách cần guidebook có tính tiện dụng, sơ đồ hóa lộ trình và thông tin dịch vụ chi tiết (khách sạn, giá cả), mà "Guide Touristique Général de l'Indochine (Guide Alphabétique Taupin)" (Sách hướng dẫn du lịch tổng quát Đông Dương - hướng dẫn theo bảng chữ cái Taupin) ấn hành tại Hà Nội (1937) là tiêu biểu.
![]() |
| Một đoạn thông tin giới thiệu Banméthuot trong cẩm nang du lịch "L'Annam: Guide du Touriste". |
So với những thông tin hướng dẫn năm 1926 của cuốn “De Saigon à Tourane”, “Guide Touristique Général de l'Indochine (Guide Alphabétique Taupin)” (1937) cho thấy bước chuyển mình đáng kinh ngạc của du lịch Buôn Ma Thuột từ một nơi hoang vắng đã thành một điểm đến có tổ chức dịch vụ thương mại rõ rệt.
Trong phố lúc này đã có 3 khách sạn, sách “Guide Alphabétique Taupin” hướng dẫn chi tiết giá cả cụ thể từng khách sạn để du khách lựa chọn: - Hôtel du Grand Cerf (Khách sạn Con Hươu Lớn): 8 phòng; giá bữa sáng: 0$40 piastre (đồng Đông Dương); bữa trưa: 2 piastres; bữa tối: 2 piastres. - Hôtel du Lac (Khách sạn Bên Hồ): 4 phòng; giá bữa sáng: 0$50 piastre; bữa trưa: 2 piastres; bữa tối: 2 piastres. - Hôtel Maury (Khách sạn Maury): 5 phòng; giá bữa sáng: 0$30 piastre; bữa trưa: 1 piastre; bữa tối: 1 piastre. Du khách được đảm bảo về y tế và an ninh, khi Buôn Ma Thuột lúc này có trạm y tế, trạm bưu điện, đồn lính gác.
|
Năm 1926, “Voyages et Tourisme en Annam” (Du lịch và lữ hành ở An Nam) - một cẩm nang du lịch do Phòng Du lịch Huế biên soạn và ấn hành chỉ dẫn đường đến Đắk Lắk từ Đan Kia:“Để đến được bờ hồ Lắk, cần phải tính toán một hành trình kéo dài ba ngày di chuyển theo một con đường mòn ít người qua lại và đầy những vực thẳm hiểm trở. Con đường mòn này xuyên qua địa bàn cư trú của các bộ tộc người Lát và người Êđê. Một khung cảnh tuyệt vời. Toàn bộ vùng này tự nhiên cũng rất giàu các loài thú săn như vùng Lang Bian”. |
Thông tin chỉ dẫn từ “Guide Alphabétique Taupin” cũng cho thấy dịch vụ lữ hành đã thuận lợi hơn trước rất nhiều khi đã có tuyến xe buýt hằng tuần nối liền Buôn Ma Thuột với Nha Trang. Hạ tầng giao thông của đô thị mới cũng đã hoàn thiện đáp ứng cho các phương tiện cơ giới, khi có các ga-ra sửa xe, có trạm cung cấp xăng dầu. Điều đó cho thấy xe hơi đã rất phổ biến, đã thay thế hoàn toàn ngựa và voi trên các trục lộ lớn, trong mùa khô.
Buôn Ma Thuột lúc này đã trở thành đầu mối quan trọng trong bản đồ lữ hành xuyên cao nguyên phía nam An Nam. Cuốn cẩm nang này đã thống kê những tuyến lữ hành bằng xe hơi: đường thuộc địa 14: Kontum - Sài Gòn, đi qua Buôn Ma Thuột; đường 21: Ninh Hòa đi Dran (cách Đà Lạt 39 km trên tuyến R.C. 11, km 74) đi qua Buôn Ma Thuột và Fimnon (cách Nam Đà Lạt 29 km trên tuyến R.C. 20); đường 189: Buôn Ma Thuột - Buôn Đôn; đường 191: Buôn Ma Thuột - Buôn Tuôr…
Riêng tuyến đường Đà Lạt - Buôn Ma Thuột được hình thành từ đầu thập niên 1920, như là một sự nối dài cho tour săn bắn từ Lang Bian sang Đắk Lắk. Đến cuối những năm 1930, khi các con đường khác đến Buôn Ma Thuột đều chạy xe hơi thuận lợi thì tuyến đường này rất hẹp, chỉ vừa một làn xe hơi với nhiều vực thẳm hiểm trở. Chính quyền thuộc địa buộc phải vận hành quy chế giao thông một chiều theo khung giờ (sáng đi lên, chiều đi xuống).
Nguyễn Hiếu Xương


