Khơi nguồn lực từ di sản

Di sản có thể trở thành nguồn lực cho phát triển nếu được bảo tồn đúng cách, khai thác hợp lý và đặt cộng đồng vào vị trí chủ thể.

Với không gian phát triển mới, Đắk Lắk có thêm điều kiện để phát huy giá trị di sản theo hướng tạo ra sản phẩm, sinh kế và những trải nghiệm có chiều sâu cho du khách.

Di sản sống cùng cộng đồng

Di sản chỉ thực sự có sức sống khi nó không nằm yên trong hồ sơ hay không gian trưng bày, mà vẫn được cộng đồng thực hành, trao truyền trong đời sống đương đại. Vì vậy, bảo tồn di sản trước hết không phải là giữ nguyên giá trị của quá khứ mà là tạo điều kiện để giá trị ấy tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay. Đây cũng là hướng mà tỉnh Đắk Lắk đang đặt ra trong quá trình bảo tồn, phát huy di sản văn hóa.

Nghệ sĩ ưu tú Y Phôn Ksor truyền dạy cồng chiêng cho lớp trẻ ở xã Ea Phê.

Tỉnh hiện có hệ thống di sản phong phú, trong đó Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên và Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam là hai di sản được UNESCO ghi danh. Cùng với bảo tồn các di tích, việc truyền dạy, phục dựng không gian thực hành và đưa di sản đến gần hơn với thế hệ trẻ được xem là một phần quan trọng để giữ gìn sức sống của văn hóa.

Tại xã Ea Phê, những lớp truyền dạy cồng chiêng, múa xoang được tổ chức không đơn thuần giúp lớp trẻ biết đánh chiêng, múa xoang. Điều đáng quý hơn là trong những buổi học ấy, nghệ nhân và thế hệ trẻ có cơ hội gặp nhau, người đi trước truyền lại kỹ năng, câu chuyện và cả cách ứng xử với văn hóa của cộng đồng. Ông Y Cư Ayun (buôn Puăn) cho biết bản thân ông cùng các nghệ nhân vẫn thường xuyên tham gia biểu diễn cồng chiêng. Bây giờ, được học thêm một cách bài bản giúp ông và các nghệ nhân có thêm kiến thức để thực hành, truyền dạy cho lớp trẻ; đồng thời có thể giới thiệu những giá trị văn hóa của dân tộc đến du khách.

Xã Ea Knuếc đưa văn hóa cồng chiêng vào phục vụ du khách tham quan trải nghiệm vườn sầu riêng. 

Cùng với việc đưa di sản vào đời sống để tiếp tục nuôi dưỡng và trao truyền, ở nhiều nơi, những giá trị tưởng như rất đỗi quen thuộc trong sinh hoạt cộng đồng cũng đang được nhận diện, gìn giữ để không bị mai một. Tại phường Bình Kiến, văn hóa của làng biển được lưu giữ từ chính đời sống của người dân qua tín ngưỡng, nghề truyền thống và những sinh hoạt gắn với biển. Tại đây, nghi lễ thờ cá ông tại Lăng Ông Nam Hải, tín ngưỡng Cầu ngư cùng nghề đan lưới, làm nước mắm truyền thống… được trao truyền qua nhiều thế hệ. Người dân tiếp tục thực hành nghi lễ, giữ nghề, chế biến những sản vật từ biển và truyền lại cách làm cho thế hệ sau. Chính sự tiếp nối ấy tạo nên phần hồn riêng của cộng đồng cư dân ven biển.

 

Chính quyền cơ sở cần phối hợp chặt chẽ với người dân trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức nghi lễ, duy trì phong tục và thực hành văn hóa truyền thống. Khi người dân trực tiếp tham gia và có thể tạo ra nguồn thu từ các hoạt động văn hóa, du lịch gắn với di sản, việc bảo tồn sẽ có thêm động lực để duy trì lâu dài".

 

 
TS. Phạm Thị Thanh Hường, Trưởng Ban Văn hóa Văn phòng UNESCO Việt Nam

Từ những giá trị đang sống trong cộng đồng, Bình Kiến từng bước tính đến việc đưa du khách tiếp cận sâu hơn với đời sống làng biển. Và khi những người đang giữ nghề có cơ hội giới thiệu công việc của mình, các giá trị văn hóa có thêm không gian để được tiếp nối. Di sản vì thế không chỉ được giữ lại mà còn có thể tạo thêm sinh kế, khuyến khích cộng đồng tiếp tục gìn giữ những gì đã được trao truyền.

Kết nối di sản, gia tăng giá trị

Theo thống kê của Sở VH-TT&DL, trên địa bàn tỉnh hiện có 176 di tích được xếp hạng, trong đó 5 di tích quốc gia đặc biệt, 39 di tích quốc gia và 132 di tích cấp tỉnh với các loại hình di tích lịch sử, kiến trúc - nghệ thuật, khảo cổ, danh lam thắng cảnh, phân bố rộng khắp ở các xã, phường.

Ngoài ra, hiện nay toàn tỉnh có 286 di tích được đưa vào Danh mục kiểm kê di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh theo tiêu chí của Luật Di sản văn hóa. Hiện nhiều di tích đang được đưa vào khai thác du lịch như: Biệt điện Bảo Đại, Nhà đày Buôn Ma Thuột, Đình Lạc Giao, thác Dray Nur, thác Bìm Bịp; Tháp Nhạn, Gành Đá Đĩa…

Sau hợp nhất, không gian văn hóa, di sản của tỉnh được mở rộng, tạo điều kiện kết nối cao nguyên với duyên hải. Đây không chỉ là sự cộng hưởng về địa lý mà còn mở ra dư địa lớn để hình thành những sản phẩm du lịch dựa trên sự khác biệt về văn hóa, cảnh quan và đời sống cộng đồng.

Ngư dân và du khách hòa vào không khí Lễ hội Cầu ngư của ngư dân làng Lò, phường Hòa Hiệp. 

Ở những làng chài ven biển, giá trị của một di tích lịch sử, văn hóa không chỉ nằm ở cảnh quan mà còn ở kiến trúc, phong tục, nghề truyền thống và đời sống cộng đồng. Tại xã Hòa Xuân, nơi có Di tích quốc gia đặc biệt Bến tàu Không số Vũng Rô, du khách có thể bắt đầu từ câu chuyện về những chuyến tàu bí mật vượt biển, đưa hàng hóa, vũ khí từ miền Bắc vào chi viện cho chiến trường. Từ di tích, hành trình của du khách kết nối với không gian làng biển, tìm hiểu đời sống ngư dân, thưởng thức những sản vật từ biển hoặc khám phá những cảnh quan đặc trưng của vùng đất. Khi lịch sử, cảnh quan và đời sống được đặt trong cùng một câu chuyện, di sản không còn là nơi chỉ đến để nghe thuyết minh rồi rời đi, mà trở thành một trải nghiệm có chiều sâu.

Ông Đàm Đại Hữu, đại diện Công ty Du lịch Đại Hữu (Hà Nội) khẳng định: Thế mạnh của Đắk Lắk không chỉ nằm ở số lượng di sản mà ở khả năng kết nối các giá trị vốn đang tồn tại trong cùng một không gian văn hóa. Hiện nay, công ty đang nghiên cứu xây dựng hành trình “Con đường muối”, lấy hoạt động giao thương giữa biển và vùng cao trong lịch sử làm sợi dây kết nối. Và từ câu chuyện về muối có thể mở rộng sang những làng nghề, sản vật, ẩm thực và đời sống cộng đồng dọc theo hành trình. Mỗi điểm đến không đứng riêng lẻ mà bổ sung cho nhau, giúp du khách hiểu được không chỉ một sản phẩm hay một di tích, mà cả mối quan hệ giao thương, văn hóa đã hình thành và gắn kết các vùng đất từ nhiều thế hệ.

Thúy Hồng - Tuyết Hương

Ý kiến của bạn