Mùa này, nắng trải dọc biên cương…
Ngay giữa những ngày đương xuân, dải đất dọc biên giới giữa tỉnh Gia Lai và Campuchia màu nắng đã cất lên rừng rực. Không một làn gió thoảng, chỉ chiếc lá lìa cành cũng đủ khua động cái khoảng không đang thiêm thiếp trong hơi nắng ran rả đất trời...
Nhưng bất chấp mọi khắc nghiệt của tạo hóa, sự sống vẫn cứ mặc nhiên sinh tồn bằng quy luật của riêng mình... Rừng cao su vào mùa thay lá mang một vẻ đẹp thật khó tả. Cái sắc vàng đầy siêu thực trước Tết đã trút hết, để bây giờ là một rừng nụ bung nở, lấp đầy những ô trời bằng một sắc xanh mỡ màng...
Tiếp cao su là những vệt vườn điều. Mặc không gian nồng nàn hơi nắng, những vườn điều vẫn đậm đặc một sắc xanh. Lúc lỉu trên cành những chùm điều chín đỏ, tựa những bóng đèn quả nhót khẽ lay trong làn gió thoảng. Thấp thoáng trong vườn nghe trong vắt tiếng cười trẻ nhỏ. Đi dưới tán rừng xào xạc tiếng mùa, tôi lâng lâng với bao cảm xúc không đầu không cuối của riêng mình…
Còn nhớ chuyến đi biên giới mới mươi năm trước. Khắp dải đất dọc biên cương này chỉ độc những khoảnh đất hắt hiu cây lúa rẫy. Những ngôi làng rúm ró từng nếp nhà tranh tả tơi gió đánh. Vườn đất trống trơ không một bóng cây nuôi sống được người. Vậy mà cũng chính trên nền đất này, bây giờ có người đã thu nhập mỗi năm gần tiền tỷ... Trong muôn vàn va đập lặng thầm để có những gam màu tươi sáng hôm nay, ít ai biết từng có một lớp người đã đến vùng đất này khi biên giới chỉ mới lặng im tiếng súng. Bằng tinh thần lao động quên mình, họ đã để lại cho lớp con cháu hôm nay nền tảng của cuộc sống mới...
*
Đường vào làng Kuk (xã Ia O, huyện Ia Grai cũ, nay là xã Ia O, tỉnh Gia Lai) miên man một màu vàng úa đìu hiu... Chờ mãi đến mặt trời đứng bóng, ông Nguyễn Tiến Chung mới về. Mình trần, chiếc quần dài trễ xuống quá rốn. Khuôn ngực gầy nổi từng đốt xương phập phồng theo nhịp thở. Căn lều mái tôn sùm sụp trên đầu khiến tôi có cảm giác ông mang nguyên từ rẫy về tất cả cái nắng nôi và bụi bặm… “Chẳng nhớ bao năm rồi tôi đã mất hết ý niệm thời gian. Cứ khi nào việc xong thì ấy là giờ nghỉ. Căn lều này, khu rẫy này là tất cả thế giới của tôi…”.
Ông Nguyễn Tiến Chung quê ở xã Phú Thịnh, huyện Lục Ngạn (tỉnh Hà Bắc cũ, nay là tỉnh Bắc Ninh). Xung phong nhập ngũ năm 1966, ông là lính pháo thuộc Trung đoàn 204. Năm 1975, ông phục viên với cấp bậc trung sĩ…
Chuyện ông cùng bà Siu Pương là một mối tình lãng mạn nhọc nhằn… Số là năm 1972 do sức khỏe giảm sút, ông Chung được đơn vị chuyển sang làm nhiệm vụ tăng gia sản xuất. Dân làng Kuk bấy giờ để tránh sự oanh tạc của địch phải lánh sang đất Campuchia. Trong những lần đi “dân vận”, ông Nguyễn Tiến Chung đã gặp cô du kích Siu Pương. Lễ cưới được đơn vị tổ chức vào cuối năm đó. Tháng 4/1975, khi ông Chung cùng đơn vị tiến về Sài Gòn thì cũng là lúc vợ mang bầu và ở quê mẹ mất…
![]() |
| Tuần tra trên sông Pô Kô. |
“Từ Sài Gòn trở lại làng Kuk, tôi như người bước sang một thế giới khác” - ông Chung nhớ lại… Mới chạy giặc trở về, làng xác xơ đói rét lắm. Nhà vợ ông gồm 6 người phải chen chúc nhau trong túp lều dễ chừng chỉ nhỉnh hơn chòi lúa. Thế là từ tinh mơ đến tối mịt ông Chung trần mình trên rẫy, tối lại về xoay trần nấu rượu; rồi thì đi bộ cả 20 cây số lấy muối, cá khô về cho vợ đổi lúa lấy lời…
“Làm việc không tiếc thân mình, vốn liếng đã có lúc lên tới 7 con bò, lẽ ra tôi đã được đền bù, chí ít cũng đã có căn nhà đàng hoàng để ở thế nhưng rốt cuộc lại trở về tay trắng. Đơn giản là lúc bấy giờ mỗi liều thuốc sốt phải đổi bằng một gùi lúa. Mà tôi thì chẳng nhớ bao lần bị sốt. Có một lần tôi sốt chẳng biết đã mấy ngày, trong mê man chợt nghe văng vẳng tiếng chiêng. Cố mở mắt thì ra họ hàng đang chuẩn bị làm ma… Đã không dưới hai lần tôi được chuẩn bị cho về làng ma như thế, vậy mà như có phép màu lại được sống”, ông Chung cười.
“Thế giới” của ông Chung là căn chòi thưng ván, lợp tôn vá víu được chia làm hai ngăn. Ngăn trong cắm một chiếc sạp gỗ buông màn tối om, là nơi ngủ; gian ngoài làm bếp. Từ đây về tới làng Kuk dễ chừng phải đến 3 km. Hút mắt nhìn ra chỉ thấy bốn bề một màu rừng vây bủa. Hơn 30 năm đã bó mình giữa làng, lại còn co mình vào cõi cùng của thế giới ấy nữa, phải có một tình yêu bền chặt đến thế nào, ông mới đủ nghị lực để vượt qua cuộc sống đầy nhọc nhằn này?
“Anh hiểu tôi đấy”, ông cắt lời tôi hứng khởi - “Thú thật là những ngày đầu sống chung, không ít lần tôi đã trăn trở về sự lựa chọn của mình, thậm chí đã có lúc tôi định bỏ trốn. Thế nhưng cứ mỗi lần chạm tới ý nghĩ tội lỗi ấy là lại thấy mình hèn. Thế nên đã bao lần tôi tự cười mình khi đâu đó người ta xì xầm rằng tôi bị “bỏ bùa”. Đúng là tôi đã bị bỏ bùa như thế đấy !”.
*
Theo cách tính thời gian của người Jrai, ông Chung đã về với Atâu (làng của người chết) năm mùa rẫy trước. Như thanh củi cháy đến tận cùng, ông lụi đi thanh thản. Tôi biết tin này trong một dịp tình cờ gặp lại ông Dú, nguyên là Bí thư Đảng ủy xã Ia O. Những gì mà ông phải trả giá cho cuộc sống cay cực một thời giờ đã được bù đắp: Nhờ “lộc” của các ông, con cái đứa nào cũng làm ăn khá...
Cuộc sống vốn bộn bề, đôi khi ta chỉ mãi nhìn bề mặt mà quên đi những trầm tích đã kiến tạo nên nó. Ông Nguyễn Tiến Chung, một mảnh tách lặng thầm trong đội ngũ người lính như bao người trên dải đất biên cương này, dù chẳng sách vở, đài báo nào nhắc đến thì với tôi, trong sắc xanh của những vườn điều thơm lừng trái chín kia; trong tiếng cười trong vắt của trẻ thơ kia đều chứa trầm tích những giọt mồ hôi lặng thầm của họ. Nói như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: “Họ đã sống và chết/ Giản dị và bình tâm/ Không ai nhớ mặt đặt tên/ Nhưng họ đã làm ra đất nước...”.
Ngọc Tấn






























Ý kiến bạn đọc